Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Hoàng Đức Hiền - “Nghệ nhân” của nhân dân

Chủ nhật 03/02/2019 16:00

Là người tâm huyết, dày công học tập, nghiên cứu, tiếp thu văn hóa truyền thống dân tộc, am tường sâu rộng về dân ca Tày, ông Hoàng Đức Hiền còn là tác giả của nhiều bài thơ thấm đẫm đạo lý, đậm chất nhân văn. Cả cuộc đời của ông đã đóng góp nhiều công sức, trí tuệ cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị đặc sắc của văn hóa truyền thống dân tộc.

Ông Hoàng Đức Hiền (bên trái) và tác giả.

LỚN LÊN TỪ CỘI NGUỒN DÂN CA
Hoàng Đức Hiền sinh ra trong gia đình bần nông tại xóm Bản Thuộc, xã Đồng Loan (Hạ Lang) - một làng quê sơn thủy, hữu tình, là “đất học” với nhiều tài danh dân ca Tày, thầy đồ giỏi và các bậc mo, Then danh tiếng. Trước đây, hiếm có nơi nào như Bản Thuộc - nơi tụ hội dân ca Tày giao duyên, phiên chợ Háng Toán - Bằng Ca có tới 10 tốp hát lượn kéo dài thâu đêm, suốt sáng tại làng.
Gia cảnh nghèo khó, ông cụ nội của Hoàng Đức Hiền mất sớm, để lại bà cụ nội bươn chải nuôi 3 người con. Bà cụ nội của Hoàng Đức Hiền ngay từ thuở thiếu nữ đã nổi tiếng hát hay và giỏi dân ca Tày. Sau đó, bà bị mù cả hai mắt do tai nạn lao động, không đi làm ruộng nương được nữa, bà cụ đảm đương công việc ở nhà, từ đó mà người cháu yêu quý Hoàng Đức Hiền khi ấy mới hơn 6 tuổi có điều kiện gần gũi, được bà truyền dạy dân ca Tày. Hoàng Đức Hiền là người con hiếu thảo, thông minh, năm 14 tuổi đã thuộc nhiều bài và hát, ngâm rất hay về các loại hình dân ca hát ru, đồng dao, phuối rọi, lượn Then, phong slư... Thanh niên trong làng khi có cuộc đối đáp giao duyên thường nhờ Hoàng Đức Hiền ứng tác, nhắc lời.
Bố của Hoàng Đức Hiền là người đứng đầu phường bát âm, luôn được bà con nhờ làm “quan lang”. Ông dạy cho con trai về nghi thức và các bài hát quan lang, truyện thơ Nôm, phường bát âm, cờ tướng, chọi chim... Mẹ Hoàng Đức Hiền biết nhiều về ca dao, thành ngữ. Bà là con dâu mẫu mực và chịu khó làm ăn, vì thế kinh tế gia đình dần khá giả, có điều kiện làm từ thiện, giúp người nghèo bản quán. Được gia đình quan tâm dưỡng dục, truyền dạy dân ca, Hoàng Đức Hiền đã trưởng thành nhanh chóng trong cuộc sống, học tập, công tác. Quê hương, gia đình đã tạo nên hành trang để ông vững bước trên đường đời.
TÂM HUYẾT VỚI SỰ NGHIỆP VĂN HÓA
Năm 1959, tốt nghiệp loại ưu Trường Sư phạm miền núi Trung ương, Hoàng Đức Hiền trở lại quê hương, được Ty Giáo dục phân công về công tác tại Trường Phổ thông cấp I Phong Nặm (Trùng Khánh). Là người đức độ, giàu lòng nhân ái và có năng lực, xốc vác trong công tác, ông đã trải qua nhiều cương vị từ Trưởng Phòng Tổ chức chính quyền tỉnh, Thư ký Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Thư ký riêng cho Chủ tịch UBND tỉnh, rồi Chủ tịch UBND, Bí thư Huyện ủy Hạ Lang. Năm 1989, ông về công tác tại Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch). Suốt quá trình công tác, ở cương vị nào, bên cạnh công việc được phân công, ông luôn tâm huyết với sự nghiệp văn hóa dân tộc, trau dồi, nghiên cứu, tích lũy làm dày hành trang mang theo.
Ông như “con tằm no kén” và một may mắn, “con tằm” ấy trở về đúng vị trí của mình để nhả kén ươm tơ, dệt thảm cho đời ở ngành Văn hóa - Thông tin. Thời kỳ về làm Giám đốc Sở, ngành Văn hóa - Thông tin đang gặp vô vàn khó khăn, trong đó Đoàn Văn công (nay là Đoàn Nghệ thuật tỉnh) có nguy cơ bị giải thể, ông đã động viên cán bộ, nhân viên và anh em nghệ sĩ đồng lòng, quyết tâm giữ vững Đoàn.

Ông đã có những đóng góp quan trọng trong phục hồi phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng từ cơ sở, củng cố, xây dựng các thiết chế văn hóa, bảo tồn tôn tạo các di tích lịch sử, tạo nên sự phối hợp đồng bộ trong công tác quản lý văn hóa. Ông thường nói với đồng nghiệp của mình: Chúng ta làm văn hóa không phải khi bước chân vào ngành mà từ khi là đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời, được nghe và cảm nhận những thanh âm trong trẻo, ngọt ngào từ những lời ru, câu hát của bà, của mẹ. Và ông luôn tỏ rõ quan điểm: Không phải mọi cái cũ đều lạc hậu, mọi cái mới đều văn minh. Cần đem tinh hoa của quá khứ cùng với tinh hoa hiện đại để vun đắp cho cuộc sống hôm nay, định hướng cho tương lai.
NẶNG LÒNG VỚI VỐN CỔ QUÊ HƯƠNG
Trải qua bao năm tháng trường đời, khi mái đầu đã điểm bạc, ông vẫn đọc làu làu những tác phẩm truyện thơ Nôm, thi ca như: Chúa Ba - Kim Quế, Phạm Tải - Ngọc Hoa, Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài, Quảng Tân - Ngọc Lương, đó là những tác phẩm dùng cho cả lượn Then Tày. Các chương hát của lượn Then, những bài phong slư, phuối rọi, hát ru, đồng dao, truyện sử thi Nùng Văn Vân luôn nằm trong tim ông một cách nguyên vẹn, vào dịp cần thiết hoặc ai gợi đúng cảm xúc của ông là có thể tuôn trào như mạch suối rừng thanh mát, tinh khôi. Ai gặp ông và biết ông cũng ca ngợi ông như “từ điển bách khoa toàn thư” về dân ca Tày, nhiều người gọi ông là nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc. Đặc biệt, mọi người đều ngạc nhiên về trí nhớ của ông lão Hoàng Đức Hiền nay đã ngoài 80 xuân.

Ông Hiền bộc bạch: Điều quan trọng trước hết là lòng đam mê, yêu thích, quý trọng văn hóa truyền thống, dân ca dân tộc, sự ham muốn hiểu biết, luôn sẵn sàng đón nhận những tri thức được truyền dạy từ gia đình, làng bản, xã hội và sử sách. Hiểu và thấm sâu bản chất nội dung, trân quý người truyền dạy, có sức khỏe, nên nhớ lâu.
Ngoài tuổi 80, da dẻ ông vẫn hồng hào, giọng nói truyền cảm, ấm áp và mạnh mẽ, nhất là khi nghe ông hát lượn, luyến láy, ngâm thơ, phong slư, ta cảm nhận được cả giọng hạt, giọng nẩy của ông tinh tế, hiếm có. Ông có khả năng truyền dạy dân ca rất hiệu quả, nghe ông hát đã bị cuốn hút. Đi đến đâu, ông đều tạo nên sự lan tỏa ấm áp nghĩa tình, tác phong quần chúng, gần gũi, thu phục lòng người bởi nhân cách và cả kho báu văn hóa truyền thống, dân ca tiềm tàng trong ông luôn có thể phát lộ mọi lúc, mọi nơi.

Chẳng những thế, ông Hoàng Đức Hiền còn là tác giả sáng tác nhiều bài thơ bằng lời Tày, lời Việt mặn mà, sâu sắc đạo lý, mang đậm chất dân ca giao duyên, như: “Quả còn giao duyên”, “Tỏ tình”, “Chăn slim”, “Trùng Khánh boong hây”, “Giương Phong Nặm”, “Nhớ nguồn”, “Hang hội Thang Nà”, “Bác Giáp ơi”, “Thơ xuân”, “Xuân chiến thắng”, “Diệt dốt vùng cao”... theo thể thơ thất ngôn trường thiên, có thể dùng cho lượn Then, phong slư hay những bài hát trong tang lễ: “Hương hồn nội, ngoại”, “Viếng thông gia”, “Vợ chồng ly biệt”... Ông Hoàng Đức Hiền còn sáng tác phát triển Lượn nai (Lượn mời), Lượn kết, Lượn Phjạc (Lượn giã bạn) và có tài ứng tác “xuất khẩu thành thơ”.
Về nghỉ hưu, ông vẫn đau đáu, nặng lòng về sự mai một của văn hóa truyền thống theo dòng chảy thời gian nên tiếp tục dành tâm sức của mình để đóng góp trong việc gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa của miền non nước Cao Bằng giàu bản sắc và nồng đượm tình người. Ông là người đầu tiên đề xuất thành lập Hội Bảo tồn dân ca các dân tộc của tỉnh; là Phó Chủ tịch Hội, phụ trách lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu, tham gia truyền dạy dân ca và đảm nhiệm công tác xây dựng tổ chức, phát triển tổ chức Hội. Từ 70 hội viên thời kỳ đầu sáng lập Hội, chủ yếu khu vực Thành phố, đến nay đã hình thành 8 chi hội tại các huyện, Thành phố với trên 1.500 hội viên.

Hiện, ông đang cùng những người tâm huyết trong quá trình thành lập Câu lạc bộ lượn Then Thành phố. Ông cho rằng: Văn hóa truyền thống, vốn cổ của dân tộc trải qua bao thế hệ, thăng trầm lịch sử đã bị mai một, thất truyền. Việc gìn giữ, bảo tồn văn hóa truyền thống, vốn cổ của dân tộc hiện nay không chỉ của riêng người làm công tác văn hóa, mà cần sự chung tay của tất cả mọi cấp, ngành, đặc biệt là nhân dân. Văn hóa dân tộc cần được bảo tồn trong cộng đồng dân cư.
Trải qua bao thăng trầm, dù cuộc sống có đổi thay, nhưng ông luôn mang theo bên mình những cuốn sách lượn hát, dân ca, lưu giữ những ký ức đẹp của vùng quê giàu truyền thống. Gần trọn cuộc đời, ông vẫn miệt mài nghiên cứu văn hóa dân tộc với một niềm tin, tinh hoa văn hóa truyền thống, dân ca dân tộc sẽ mãi lưu truyền cho các thế hệ mai sau. Ông thật sự xứng danh là “nghệ nhân” của nhân dân.

Lê Chí Thanh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh