Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Góp phần tô thắm “Hoa chiến công” Điện Biên Phủ

Thứ hai 07/05/2018 06:00

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những trận đánh đỉnh cao chói lọi, mang tầm vóc thời đại Hồ Chí Minh, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Góp sức vì sự nghiệp cách mạng cao cả của toàn dân tộc, tỉnh Cao Bằng đã phát huy truyền thống quê hương cách mạng, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, hy sinh, tiếp tục xây dựng và củng cố hậu phương vững chắc, góp sức người, sức của để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Cựu chiến binh Cao Bằng thăm lại chiến trường xưa.

Từ năm 1946, bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống kẻ thù xâm lược, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp. Đến năm 1953, ta đã làm chủ trên các chiến trường, tạo ra sự so sánh lực lượng có lợi cho ta. Nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường, làm cơ sở cho một giải pháp chính trị hòng tiếp tục sự chiếm đóng lâu dài, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ, xây dựng nơi đây thành căn cứ quân sự kiên cố, như “một pháo đài không thể công phá”.
Đầu tháng 12/1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở chiến dịch đánh bại địch ở Điện Biên Phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”. Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đảng ủy mặt trận được thành lập do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch. Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Mọi công việc chuẩn bị cho Chiến dịch được tiến hành khẩn trương, các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, bạt rừng, xẻ núi mở đường kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng tiến công địch; dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch.

Ông Bổng ôn lại kỷ niệm chiến trường.

Để hoàn thành những nhiệm vụ to lớn, quan trọng do Đảng đề ra, đòi hỏi nhân dân cả nước phải nỗ lực hết mình cho công cuộc xây dựng hậu phương và chi viện cho chiến trường giành thắng lợi. Tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt thời kỳ kháng chiến, quân và dân các dân tộc Cao Bằng đã nêu cao tinh thần cách mạng, đoàn kết, làm tròn nghĩa vụ hậu phương. Tất cả các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Hoa và nhất là đồng bào Mông, Dao, Lô Lô... từ những vùng núi cao, thung lũng hẻo lánh, xa xôi, xưa nay ít đi đâu xa, nhưng đã rất hăng hái, đoàn kết một lòng tham gia phục vụ Chiến dịch. Trên mặt trận nông nghiệp, các địa phương đẩy mạnh tăng gia sản xuất, xây dựng nền kinh tế kháng chiến tự cấp tự túc, cải thiện đời sống nhân dân. Các hộ nông dân tranh thủ cày cấy và dành lương thực cho Chiến dịch. Nhiều nơi xuất hiện phong trào đổi công, tạo điều kiện giúp nhau kịp thời vụ và giúp đỡ các gia đình có người đi bộ đội, dân quân du kích, dân công, gia đình neo đơn.
Cao Bằng còn là một trong những tỉnh có số lượng dân công chi viện cho chiến trường lớn nhất. Toàn tỉnh có nhiều hoạt động thiết thực, sôi nổi như vận động con em đi bộ đội, tham gia dân công, du kích, quyên góp công quỹ kháng chiến... Năm 1953, tỉnh đã huy động 25.867 người làm 914.958 ngày công để bảo đảm giao thông cho 181 km đường chính quy. Bước sang năm 1954, chiến trường càng diễn ra ác liệt hơn trước. Điện Biên Phủ cách xa hậu phương nên việc tiếp tế, vận chuyển hậu cần gặp rất nhiều khó khăn. Với tinh thần “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, quân và dân Cao Bằng đã dồn hết sức mình chi viện cho chiến trường. Trong năm 1954, toàn tỉnh đã huy động 35.456 người làm 873.902 ngày công để sửa chữa đường phà và phục vụ cho kế hoạch quân sự.
Là nơi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, xã Tam Kim (Nguyên Bình) dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng đã tuyên truyền, giải thích cho mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân ý nghĩa, tầm quan trọng của Chiến dịch. Nói rõ quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta dốc sức, dốc lòng cho Chiến dịch toàn thắng. Tam Kim đã huy động hơn 1.000 lượt người đi phục vụ chiến dịch; 120 tấn thóc, 20 con trâu, bò, 18 con lợn, nhiều gà vịt, thực phẩm khác cho Chiến dịch. Tự hào là quê hương cội nguồn cách mạng, huyện Hà Quảng cũng dồn hết sức mình chi viện cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Chỉ riêng xã Sóc Giang (nay là xã Sóc Hà) tổ chức một đội dân công gồm 280 người, 12 con ngựa, 8 xe đạp phục vụ Chiến dịch. Đặc biệt có ông Triệu Văn Mạ, xóm Bắc Phương, xã Quý Quân đã ủng hộ cho Chiến dịch 1 chiếc xe đạp.
Việc vận chuyển hàng hóa, lương thực, thực phẩm của tỉnh cho mặt trận cũng có nhiều cố gắng. Hơn 60 năm đã trôi qua, kể từ ngày Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng đi vào lịch sử, nhưng những năm tháng phục vụ chiến trường đầy gian khổ, những kỷ niệm khó quên vẫn còn vẹn nguyên trong hồi ức của cựu chiến binh Chu Sỹ Mô, xóm Pác Mỷ, xã Quảng Hưng (Quảng Uyên) lái xe vận chuyển lương thực, súng đạn phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ. Quãng đường từ Cao Bằng đến Điện Biên Phủ luôn bị máy bay địch quần thảo bắn phá ác liệt, bom nổ chậm, thám báo địch nhưng ông đều hăng hái thi đua lập thành tích. Ông đã thực hiện nhiệm vụ vận chuyển hàng trăm tấn lương thực, vũ khí, khí tài và quân cho Chiến dịch. Đồng thời, gần 2.000 tấn lương thực đã được các phương tiện thô sơ chuyển ra mặt trận. Hàng chục vạn ngày công trên các công trường làm gỗ, làm đường, bảo vệ kho tàng, bảo đảm giao thông - vận tải từ Thủy Khẩu (biên giới Việt - Trung) về xuôi và các vùng trong tỉnh, nối liền hậu phương với mặt trận Trung du, Tây Bắc và các mặt trận khác trong cả nước. Chiến dịch Điện Biên Phủ là cuộc chiến đấu toàn dân, toàn diện, có sự đóng góp sức lực và xương máu của cả nước, trong đó có sự đóng góp về tinh thần, sức lực của đoàn dân công hỏa tuyến Cao Bằng. Họ là ... “những chị, những anh ngày đêm ra tiền tuyến/Mấy tầng mây, gió lớn, mưa to/Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ/Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát/Dù bom đạn, xương tan thịt nát/Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh...” (Tố Hữu).

Ông Trung kể chuyện về Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Phát huy sức mạnh của hậu phương, Cao Bằng còn tích cực đóng góp nhân lực trực tiếp tham gia Chiến dịch. Đã có 844 cán bộ, chiến sĩ được bổ sung cho bộ đội chủ lực, có 1.034 người đi dân công dài ngày phục vụ Chiến dịch dài ngày.  Ngày 25/1/1954, các đơn vị bộ đội ta ở vị trí tập kết sẵn sàng nổ súng theo phương châm tác chiến “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Nhưng nhận thấy địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự vững chắc, Bộ Chỉ huy và Đảng ủy Chiến dịch đã đưa ra quyết định mới: giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thay đổi phương châm tác chiến sang “đánh chắc, tiến chắc”. Thực hiện phương châm mới, trận quyết chiến Điện Biên Phủ diễn ra từ ngày 13/3 - 7/5/1954 và được chia làm 3 đợt.
Đại tá Phạm Ngọc Bổng, xóm Làng Đền, xã Hoàng Tung (Hòa An), nguyên Phó Hiệu trưởng Trường sĩ quan Hậu cần là một trong những người trực tiếp tham gia chiến đấu trong đợt 1, từ ngày 13 - 17/3/1954.  Lúc đó, ông ở Đại đội 671, Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316, đóng quân ở Thọ Xuân (Thanh Hóa). Tham gia Chiến dịch, đơn vị ông đã hành quân gần một tháng mới đến Điện Biên Phủ. Ông kể: Trận mở màn tại Trung tâm đề kháng Him Lam ngày 13/3/1954, là lá chắn đầu tiên phía Đông Bắc của địch. Sau những loạt đạn của pháo binh đã dọn đường cho bộ binh xông lên tiêu diệt từng vị trí, từng tên địch trong các hầm trú ẩn. Ta đã dũng cảm tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và đồi Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm, diệt và bắt sống trên 2.000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ 1 trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh. Ông Bổng bị thương trong đợt chiến đấu này.
Cùng tham gia Chiến dịch, Đại tá Nguyễn Khánh Trung, ở Bó Lếch, xã Hoàng Tung (Hòa An), Lão thành cách mạng, trong Chiến dịch, ông công tác ở Phòng Bí thư, Văn phòng Bộ Quốc phòng với nhiệm vụ đánh máy soạn thảo các chỉ thị, nghị quyết của Bộ Chỉ huy và Đảng ủy Chiến dịch. Là bộ phận phục vụ, ông Trung được gần gũi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đã nhiều lần chứng kiến những quyết định quan trọng liên quan đến sự thành công của Chiến dịch. Trong đó, với tư cách là Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, ngoài yếu tố bảo đảm đánh chắc thắng, còn nhằm giảm tổn thất, hy sinh cho bộ đội.
Để góp phần vào sự thành công của chiến thắng Điện Biên Phủ, đã có nhiều tấm gương anh hùng của con em dân tộc Cao Bằng như Phùng Văn Khầu, Lộc Văn Trọng. Một số người đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn xuân xanh. Họ là những chiến sĩ mang trên mình một tình yêu Tổ quốc, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, trong đó có liệt sỹ Bế Văn Đàn lấy vai làm giá súng, Dũng sỹ đâm lê Hoàng Văn Nô, là tấm gương sáng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, trở thành biểu tượng chiến đấu và chiến thắng được các chiến sỹ Điện Biên Phủ sau này noi theo.
Sau thời gian “Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt/Máu trộn bùn non/Gan không núng, chí không mòn” (Tố Hữu), tất cả vững niềm tin chiến thắng là động lực vô cùng to lớn để ngày 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch. Quân ta làm chủ toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng của địch. Ngày 7/5/1954 trở thành ngày kỷ niệm thắng lợi Chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Chiến thắng Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại. Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử đã kết thúc chín năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, làm rạng rỡ thêm truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Những đóng góp về sức người, sức của của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Cao Bằng đã góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến, xứng đáng với truyền thống quê hương cách mạng anh hùng.  

Tiến Quyết

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh