Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Gỡ khổ… Đức Hạnh (Kỳ I)

Thứ bảy 17/05/2014 07:00

Đến huyện vùng sâu, vùng xa biên giới đặc biệt khó khăn Bảo Lâm, vẫn được nghe người dân truyền miệng “Xa Yên Thổ, khổ Đức Hạnh...” ý nói, xã Yên Thổ cách trung tâm huyện 60 km đường núi, xã Đức Hạnh gian khổ chồng chất gian khổ. Chúng tôi đến xã Đức Hạnh, chứng kiến đồng bào các dân tộc: Mông, Lô Lô, Nùng, Tày, sinh sống trong khó khăn, khô khát, khắc nghiệt và luật tục... Cái khổ đeo đẳng với đồng bào trên vách núi cheo leo.

KỲ I: NHỮNG CUỘC ĐỜI KHÁT VÀ VÒNG TRÓI LUẬT TỤC

Hỏi từ em bé, người già trong bản đến Bí thư Đảng ủy xã Lê Bá Hùng (cán bộ của Đồn Biên phòng Cốc Pàng tăng cường) về cái khó nhất của Đức Hạnh là gì? Mọi người đều trả lời: “Khổ vì sống trên núi cao khô khát”. Thiếu nước sinh hoạt cho nhu cầu tối thiểu ăn, uống, tắm giặt… nên trồng ngô, lúa trên nương rẫy 1 vụ “ăn may” chờ nước trời… Cứ thế hơn 946 hộ/5.000 nhân khẩu, sống trong khô khát, hạn hán, mất mùa… nên nghèo đói rình rập cùng với vòng trói luật tục luẩn quẩn…

DƯỚI NÚI TRỜI “ĐÓI” NƯỚC TRỜI

Xã Đức Hạnh có những dãy núi chập trùng bao quanh dưới chân núi cao gần 2.000 m Phja Phạ gồm: Sơn Vĩ (Hà Giang) và Lũng Mần, Lũng Cò (xã Đức Hạnh, Bảo Lâm và Cốc Pàng, Bảo Lạc). Dân bản gọi chung những đỉnh núi cao đó là Phja Phạ - núi trời. Vì núi cao vút xuyên thẳng lên những đám mây khổng lồ trên trời, quanh năm không mấy khi thấy đỉnh núi ló ra. Đức Hạnh cũng là đầu nguồn dòng sông Nho Quế. Tiếng là dưới núi trời, đầu nguồn sông Nho Quế nhưng cả xã khô khát.

Địa hình xã Đức Hạnh, Bảo Lâm núi đá cao khô khát, không có nước sinh hoạt và sản xuất.

Đồng bào than thở rằng, gần trời mà chẳng mấy khi mưa thuận, gió hòa, chỉ “đói” nước trời. Sông Nho Quế nằm sâu dưới dãy núi Sơn Vĩ (Hà Giang) - Phja Phạ (Đức Hạnh) còn đồng bào sống trên đỉnh núi cao ngất như bản Lũng Mần, Dình Phà, Ngườm Trái... Từ xưa đến nay, khi khoa học phát triển, người ta vẫn chưa dẫn được nước sông ngược lên đỉnh núi cao hiểm trở hàng nghìn mét.

Tâm sự về cuộc sống khô khát của đồng bào, đồng chí Lê Bá Hùng giọng trầm buồn: Gần 100% hộ làm rẫy trên núi cao, nhưng Đức Hạnh hiếm mưa lắm! Hơn 15 năm tôi đến công tác xã chỉ thấy một vài năm có mưa tương đối thuận. Hạn hán nhiều, núi dốc, đất khô khốc, nên mưa to một chút là lũ quét, lũ ống cuốn đi nhà cửa, cây trồng, làm đất bạc màu. Tháng 8/2009, mưa to kéo dài hơn 3 giờ trong đêm cuốn trôi nhà, người, hoa màu của mấy chục hộ.

Chúng tôi đến xã vào tháng 3 âm lịch mùa đồng bào phát rẫy làm nương. Núi từ thấp đến cao hàng nghìn mét chỉ thấy chằng chịt nương rẫy khô trắng xóa, đỏ au mới làm cỏ xong chờ mưa tra hạt. Thế mới hiểu câu nói người Mông, Lô Lô, Nùng nơi đây “Không có ngọn núi nào cao hơn đầu gối của họ”. Vì lẽ sinh tồn, chỉ với đôi chân leo núi, tay cầm con dao, đồng bào phát sạch hàng trăm ha rừng trên bất cứ ngọn núi cao nào có đất để làm nương.

Bạt ngàn nương rẫy nhưng chẳng nuôi nổi 5.000 con người. Vì ít mưa, khô hạn, cây ngô, lúa rẫy hạt khô lép, năng suất thấp. Mưa to cuốn trôi hoa màu, làm đất bạc màu. Không phát triển chăn nuôi được vì không có bãi chăn thả, không lương thực dư thừa. Hằng năm xã xin 7 - 16 tấn gạo cứu đói, chưa kể hơn 5 tấn gạo chế độ phát cho các cháu học sinh… Đến nơi ở của cán bộ xã, mấy chục người cũng chỉ có một vòi nước dẫn từ khe núi xa hàng km về. Gần 10 người dồn lại nấu ăn chung để tiết kiệm nước…

Từ trụ sở xã, chúng tôi vượt 20 km đường dốc núi đá hiểm trở lên với đồng bào Mông ở Lũng Mần. Bạt ngàn mũi đá chồng lên nhau thành rừng đá khô khốc trơ trọi. Gió mạnh thổi siết vào khe đá rít lên từng đợt, dội thốc vào những mái nhà thấp ken ván, nứa dựng trên đá gió, xé nát lá cây chuối còi cọc. Bà con cặm cụi tra hạt ngô vào hốc đá, trẻ em đứa nào cũng lem luốc từ mặt đến chân. Nhiều bé không mặc quần ngồi chơi trên những mỏm đá. Chúng tôi cho bánh kẹo, những bàn tay bé xíu của các cháu đen quánh đất hồn nhiên bóc ăn. Hỏi: Thầy, cô giáo có dạy các cháu rửa tay trước khi ăn không? Các cháu trả lời: Có dạy nhưng nhà chúng cháu không có nước rửa tay mà! Rồi bọn trẻ dẫn tôi đến mấy hốc đá cạn gần đáy, màu xanh lè và cho biết: Cả bản của cháu (70 hộ/400 người) dùng chung nước trong 10 hốc đá hứng nước trời này. Nước ăn dùng từng gáo nên chúng cháu ít khi tắm giặt, rửa tay... Quần áo không dám thay vì không có nước giặt…

Đến gặp già làng Sần Mí Lủ trò chuyện, mới hiểu thêm nỗi khổ, khát nơi đây. Ông đen gầy, khô quắt, mặt hằn sâu nếp nhăn, khắc khổ như phiến đá khô trên núi. Ông bảo: Lũng Mần trồng ngô trên hốc đá chịu khát, gió thổi mạnh nên rách lá, ít hạt. Mùa giáp hạt cả bản không nhà nào còn ngô nấu mèn mén, bọn trẻ đói, khóc nhiều lắm… Tao đói, khổ sắp hết đời rồi. Chỉ mong nhìn thấy bọn trẻ có nước tắm, giặt sạch sẽ, ăn no cái bụng...

Từ trên cao núi đi xuống, dọc đường chúng tôi nghe các cháu Tày, Nùng, Mông, Lô Lô hát câu đồng dao “Oi mật, oi mèng… Mầư nắt dú nhả, co mạy lai lai boóc… khửn Phja Phạ tói phân lồng lồng...” (Ơi những con ong, con kiến… Mày muốn sống làm tổ dưới đất có nhiều cỏ cây, hoa lá… thì lên núi trời đòi mưa đem nước xuống đây…) Câu đồng dao là nỗi lòng trẻ em, bởi mới lớn lên chúng đã nếm trải cơn khát - đói nước làm nên đói khổ.

KHÓ GỠ VÒNG TRÓI LUẬT TỤC

Khô, khát, đói, khổ chưa hết… Đồng chí Hùng chia sẻ tiếp: Đồng bào ở đây còn nặng về luật tục. Đẻ nhiều, tảo hôn, kết hôn cận huyết thống, tin vào ma quỷ, đốt rừng làm nương rẫy… Anh kể, hơn 10 năm làm cán bộ xã đã chứng thực tách hộ cho 600 hộ, dân số xã lên hơn 5.000 người/946 hộ. Vì đẻ nhiều con rồi nhanh chóng tách hộ. Tạo áp lực khó xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí cho xã.
Giải thích nguyên nhân khó giảm tỷ lệ sinh, chị Triệu Thị Xéo, cán bộ y tế xã cho biết: Nhiều bản dân trí còn thấp, chúng tôi đến từng bản tuyên truyền, vận động thực hiện kế hoạch hóa gia đình, phát bao cao su, thuốc tránh thai…, đồng bào đều nghe và nhận hết. Thế nhưng đồng bào Mông, Lô Lô, Nùng vẫn đẻ nhiều. Khi hỏi sao không thực hiện kế hoạch hóa gia đình, đồng bào thủng thẳng trả lời: Không đẻ nhiều thì nhà thiếu người làm nương rẫy. Có phúc trời mới cho nhiều con. Đề phòng đứa này chết thì phải có đứa khác thay làm việc, chăm sóc người già chứ! Ngoài ra, vẫn còn tập tục tảo hôn, kết hôn cận huyết thống, hộ có 3 - 7 con khá phổ biến. Nhiều bản chỉ có 70 - 75 hộ, nhưng hơn 400 nhân khẩu. Trẻ em tuổi mẫu giáo, tiểu học, THCS có gần 1.000 cháu chưa kể số bỏ học giữa chừng, không đi học mẫu giáo… Vì thế xã chưa đạt phổ cập giáo dục tiểu học và mầm non.

Do tập tục lạc hậu, phụ nữ và trẻ em chủ yếu là lao động chính, làm việc vất vả, cực nhọc.

Đói nghèo, dân trí thấp dẫn đến ăn ở mất vệ sinh, không chăm sóc trẻ em, tảo hôn, ăn lá ngón tự tử... Gánh chịu hậu quả nhiều nhất là phụ nữ và trẻ em. Theo thống kê của cán bộ y tế xã, tiêm chủng 6 mũi vắc xin cho trẻ dưới 6 tuổi chưa đạt 60%, nhiều hộ nghèo nên khó triển khai phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em. Nhiều phụ nữ sinh con tại nhà không được chăm sóc sức khỏe sinh sản… Nên hằng năm xã thường có dịch tả, tiêu chảy, lỵ, đau bụng cấp, viêm da… Số bị nhiễm dịch và tử vong lại là trẻ em và phụ nữ vì sức đề kháng kém, suy kiệt sức khỏe…

 Xã Đức Hạnh (Bảo Lâm) là xã biên giới đặc biệt khó khăn. Xã có 18 bản/9.000 ha đất tự nhiên là núi cao, có hơn 600 ha ruộng, nương rẫy; 946 hộ/hơn 5.000 nhân khẩu, 60% dân tộc Mông, Lô Lô còn lại là dân tộc Nùng, Tày. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, khô hạn, lũ quét làm mất mùa, nên tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo trên 60%.

Gặp mẹ con chị Sần Thị Và đang làm nương, chị cuốc đất tra hạt, đi theo sau là đứa con gái nhỏ xíu, tay trần bốc phân bò khô thả từng nắm xuống hốc đất. Chị cho biết: Phụ nữ, con nhỏ đi làm rẫy, còn đàn ông ở nhà. Khổ nhưng tao không như mấy cô gái dưới Dình Phà, Ngườm Trái bỏ đi Trung Quốc làm thuê. Bị bắt đem trả về nhà xấu hổ với chồng, con rồi ăn lá ngón tự tử… Ở đây cứ nghĩ không ra, khổ quá, giận nhau lại đi tìm ăn lá ngón tự tử, năm nào cũng có.

Đến nhà Sần Mí Chí, Trưởng bản Lũng Mần, bước vào cửa có hai con dao gỗ nhuộm màu đỏ cắm ngay lối đi. Thầy giáo Nguyễn gọi: Mí Chí ơi có khách. Mí Chí nói vọng ra: Thầy à! Bảo mọi người vào nhà đi. Vợ tao chết vì tiêu chảy mấy năm rồi nhưng bọn trẻ con vẫn mệt, hay khóc. Sợ con ma về bắt trẻ con và vợ mới nên phải cắm dao ngăn con ma không về nhà. Mặt Mí Chí khắc khổ, gầy khô đen đúa, lưng còng xuống, áo quần nhàu nát… Trong nhà không có gì đáng giá mấy trăm nghìn ngoài đống quần áo trẻ con, người lớn đã bốc mùi không được giặt. Nếu thầy Nguyễn không nói Mí Chí là thế hệ “học sinh 8X” đầu tiên của thầy thì tôi đoán Mí Chí đã ngoài 50 tuổi. Mí Chí bảo “Dân bản chỉ học lớp 1 - 5 thôi vì không thể đi bộ 20 km đường núi ra trung tâm xã học lên THCS. Mí Chí học lớp 5 rồi ở nhà, lấy vợ sớm, đẻ nhiều con để vợ con đi làm nương rẫy rồi lại nghèo đói…”. Cứ thế truyền đời vòng luật tục mà chưa biết đến khi nào mới gỡ được…

Trường Hà

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh