Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Chuyện về những người lính quân hàm xanh

Thứ hai 02/03/2020 06:00

Hằng năm, cứ mỗi dịp tháng Ba là trong tôi lại gợi kỷ niệm về những chiến sĩ mang quân hàm xanh mà tiền thân là lực lượng Công an nhân dân vũ trang được thành lập ngày 3/3/1959, với nhiệm vụ bảo vệ an ninh biên giới, hải đảo của Tổ quốc. Do tính chất công việc của người làm báo mà tôi gắn bó và có nhiều kỷ niệm với lực lượng bộ đội biên phòng (BĐBP). Một kỷ niệm còn ấn tượng mãi trong tôi là chuyến đi về các đồn biên giới vùng Lục Khu thuộc huyện Hà Quảng cách đây đã hơn ba chục năm.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Lũng Nặm tuần tra đường biên, mốc giới.

Trong dịp đến dự hội nghị tổng kết công tác năm 1988 của BĐBP tỉnh, tôi có điều kiện gặp chỉ huy các đồn. Thời điểm đó, lực lượng biên phòng vẫn thuộc ngành công an. Báo cáo tổng kết nhiệm vụ công tác năm của lực lượng cũng nêu những khó khăn trong đời sống sinh hoạt của cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là các đơn vị đóng trên địa bàn thuộc huyện Hà Quảng mà nan giải nhất là tình trạng thiếu nước sinh hoạt trong mùa khô. Nhân dịp này, chỉ huy biên phòng cũng phát động phong trào thi đua và tổ chức các hoạt động hướng tới kỷ niệm lần thứ 30 Ngày truyền thống BĐBP (3/3/1959 - 3/3/1989). Đồng thời, BĐBP cùng phối hợp với Sở Văn hóa - Thông tin xuất bản cuốn sách “Lá xanh lấp lánh” với mục đích tuyên truyền về truyền thống vẻ vang của lực lượng BĐBP tỉnh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc.              
Tôi chọn cuộc hành trình đi các đồn biên phòng ở vùng cao Lục Khu để bằng hình tượng văn học phản ánh cuộc sống, chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ. Trong chuyến đi thực tế này, tôi cùng Đội chiếu bóng của Công an tỉnh đi phục vụ cán bộ, chiến sĩ và đồng bào các dân tộc vùng cao. Ở Đồn Tổng Cọt, tôi cảm nhận mọi sinh hoạt của chiến sĩ biên phòng vẫn bình thường. Đến Nội Thôn đã bắt đầu ngấm cái khổ thiếu nước trong mùa khô khi nửa đêm thức dậy chứng kiến bốn cô gái ngồi sưởi lửa bên mỏ nước Bó Rẳng ở bản Pác Hoan để chờ lấy nước.
Do tính chất công việc nên chúng tôi đến Đồn Cải Viên thì trời đã về chiều. Từ trên đèo nhìn xuống vùng đất dưới thung lũng là bạt ngàn rẫy khô khát giữa những mỏm đá tai mèo lô xô. Cây cũng héo mòn, cỏ không còn là cỏ. Những chú bê con gầy guộc ngơ ngác kiếm ăn. Những căn nhà sàn trong bản Lũng Pán phủ làn khói màu lam. Chúng tôi về tới sân đồn thì chiến sĩ liên lạc phi ngựa vun vút thẳng tới sân. Chưa kịp xuống ngựa, mấy anh bộ đội từ nãy say sưa đánh bóng chuyền đã xúm lại nhao nhao hỏi:
- Này, bình tông có nước không, cho tao xin một ca?
Tháo chiếc yên khỏi lưng ngựa, chiến sĩ liên lạc lấy ra một tập thư:
- Toàn bộ thư đây, ai có thì lấy, còn lại các việc khác thì từ từ, để kiếm chút nước cho ngựa đã.
- Thủ trưởng Hưng ơi! cho em xin một ca nước.
- Không được, việc xuất nước đã có kế hoạch cả rồi. Một giọt cũng không được, dứt khoát.
Thấy Đồn phó Hưng tỏ thái độ kiên quyết, cậu liên lạc mở chiếc ba lô con cóc, lấy chiếc bình tông ra và nhỏ nhẹ vỗ vỗ vào má con ngựa:  
- Thủ trưởng không cho thì dùng nước dự trữ của tôi vậy.
- Từ từ, để lấy chậu hứng. Một chiến sĩ nhanh nhảu. May quá, có nước rồi.
Cả đám cầu thủ đánh bóng chuyền nhao nhao chạy tới bên chiến sĩ liên lạc. Dòng nước trong veo từ trong bình tông rơi trên những cánh tay bám đầy bụi, đến khi rơi khỏi bàn tay cuối cùng xuống chậu thì đã đục ngầu. Chú ngựa vẫn lim dim mắt, thỉnh thoảng đập vó xuống đất vẻ sốt ruột chờ đợi.
- Nhanh nhanh lên, chỉ cần dấp ướt, lấy giẻ lau sạch là quý rồi.
Đám người tản đi. Chú ngựa nốc một hơi cạn hết chỗ nước đục ngầu rồi lại liếm lấy liếm để quanh thành chậu, làm cái chậu cứ lăn tròn trên sân cỏ. Khi chiến sĩ liên lạc tới dắt về chuồng, chú ngựa có vẻ còn tiếc ngẩn ngơ cái chậu.
Chúng tôi ngồi ở bãi cỏ trước sân đồn để ngắm hoàng hôn Lục Khu. Thấy khách lạ, mấy chiến sĩ xúm quanh làm quen.
- Các anh mới đến à?
- Các anh quê ở đâu, em là lính Hà Nội đây.
- Cậu ở phố nào? Tôi hỏi.
- Em ở Sóc Sơn, ngoại thành thôi. Còn thằng này nó ở ngay phố Nam Đồng. Thằng răng sạm đen kia ở Hà Bắc. Thằng mặt đẹp trai này quê Bắc Kạn, còn trẻ thế mà đã có vợ rồi đấy.
Cả đám cười ồ lên. Vẫn cậu lém lỉnh nói tiếp:
- Đơn vị chúng em có chuyện, nếu ai chưa tận mắt thấy thì khó tin. Hằng ngày trực ban xuất gạo, chỉ huy xuất nước. Nước lấy về phải nhập kho, buổi sáng mỗi người được phân phối một nắp phích nước để đánh răng, còn lại đổ chung vào chậu để rửa mặt. Ai rửa xong trước phải vắt ráo nước để người sau rửa. Cuối cùng là đổ vào cái chậu tôn để dành cho gia súc uống. Còn chuyện tắm thì “tuỳ nghi di tản”. Nếu lâu ngày cần giặt quần áo thì tập trung cho ngựa thồ đi Tổng Cọt. Có lẽ ở nơi khác, được cử đi công tác xa chắc ngại, nhưng ở đây nếu được cử đi công tác xa thì lại rất thích vì sẽ được tắm thoải mái.
- Này anh ơi, đừng để cho thằng mắt đen nhẻm kia ngồi gần nhé, nó đã hơn ba tháng chưa tắm rồi đấy - Một cậu dáng tinh nghịch từ đằng xa gọi lại.
- Các anh đừng tin lời nó. Lính Hà Nội chỉ được cái tếu không ai bằng. Em đây này, là lính vận động quần chúng, quanh năm gắn bó với dân bản. Mới cách đây một tháng em vào bản Tả Viểu còn được gái bản đi tận mỏ Pác Thá lấy cho một gánh nước để tắm. Nó là lính vũ trang, bọn em gọi đùa là “lính tuần núi”. Dọc đường tuần tra, cổ khát khô cũng chỉ biết nhai củ dương xỉ cho đỡ thèm nước, thế mà đi đâu, gặp ai cũng oang oác cái mồm ra vẻ sạch sẽ lắm. Em kể cho nghe chuyện này nhé: Hồi năm ngoái, sắp đến Tết, nó rủ em đi tắm, em tưởng thật. Nó bảo: Khoác áo bông vào, rồi theo nó lên hẻm núi cao kia. Vốn nó là “lính tuần núi” nên em đi theo như muốn đứt hơi mà không kịp. Gần đến nơi, em thấy nó mình trần mặc mỗi cái quần cộc ngồi trước cửa hang đá, hai tay cứ xuýt xoa kì cọ. Thấy lạ, em tưởng cuộc sống của người lính gian khổ quá nó không chịu được, phát bệnh tâm thần. Em mới gọi: Này! Làm gì đấy? Mặt nó vẫn tỉnh bơ như không hề có em. Tay nó vừa kỳ cọ, thỉnh thoảng làm cái điệu khỏa như đang ngâm mình giữa dòng sông vậy. Mãi sau, nó mới thủng thẳng: - Tắm chứ làm gì! Tắm hơi. Mày không biết bây giờ tắm hơi là mốt thời đại à? Vào đây, tao hướng dẫn kỹ thuật cho.

Một góc xã Vân An (Hà Quảng).

 Câu chuyện giữa chúng tôi với các chiến sĩ trẻ kéo dài không muốn dứt. Khi chiếc máy nổ phát điện sáng trưng, đám thanh niên và trẻ con trong bản kéo tới xem phim, trực ban thổi còi tập trung quân làm nhiệm vụ thì nhóm lính trẻ mới giải tán.
Buổi chiều chiếu đúp hai phim liền nên khi chương trình kết thúc thì đã quá khuya. Thu dọn máy móc xong, cậu thợ máy nổ chìa hai tay đen xì dầu mỡ về phía Đồn phó Hưng:
- Cho em xin nửa ca nước và tí xà phòng.
- Này, trực ban đâu? - Hưng lúng túng - k--iếm nửa ca nước.
- Báo cáo thủ trưởng, nhẵn như chùi.
- Thôi, lấy nước phích ra dùng tạm một ít đã, rồi mang can vào gặp trưởng bản, bảo là xin nước tiếp khách đặc biệt nhé.
Rót một nắp phích nước nóng vào chậu cho anh thợ máy rửa tay, chiến sĩ trực ban vội xách hai chiếc can lao vào bóng đêm. Một lúc sau quay lại với hai can nước đã đầy ắp.
- Xuất cho một nồi nước để đun uống, còn lại cho vào kho. Hưng nói như ra lệnh, rồi quay lại chúng tôi - Cực thế đấy anh ạ. Dân bản tốt với BĐBP lắm, nhưng thực lực của bà con cũng có hạn, Tết năm ngoái, thấy anh em cực quá dân bản Lũng Pán ủng hộ đồn mỗi nhà một gánh nước và một quả bí đỏ.
 Hôm sau, chúng tôi thăm ông Khiào, một người có uy tín ở bản Lũng Pán. Ông đang đau bụng nhưng thấy khách đến nhà, cố ôm bụng ra khỏi buồng:
- Cán bộ đi đâu sớm thế?
- Đi chụp ảnh.
- Mỗi “cái” bao nhiêu? Tôi muốn chụp một “cái” cho vào cái khung huân chương, to bằng này. Vừa nói, ông vừa dùng hai ngón trỏ vạch vào không khí.
- Không lấy tiền đâu!
- Thế lấy cái gì?
- Lấy nước.
- Trời đất ơi. Ở Lục Khu mới thiếu nước chứ, chỗ khác thì lấy nước làm gì?
- Lấy nước cho bộ đội.
- À, ra thế! Ông gắp một cục than hồng châm vào điếu cày, tiếng nước trong điếu kêu khùng khục theo nhịp rít của ông.
Thấy ông tỏ vẻ hoài nghi, tôi bảo:
- Bác Khiào à, từ hôm qua đến đồn, được nghe chỉ huy nói là bác tốt lắm, dân bản tốt lắm. Dân bản giúp nước cho bộ đội nhiều rồi, nay muốn chụp ảnh lại những việc làm tốt của dân bản để triển lãm kỷ niệm nhân ngày truyền thống BĐBP, mong bác giúp vài gánh nước để cháu chụp ảnh nhé.
- Được thôi, nhưng lấy nhiều thế để tôi bàn với chủ nhiệm đã. Anh bảo bộ đội mang thùng vào đi.
Khi tôi ra đồn gọi anh em mang thùng tới thì ông Khiào cũng đã tìm được Chủ nhiệm Quáng. Hai người hăng hái chạy đến từng nhà vận động mỗi nhà ủng hộ một gánh nước. Đám trẻ nhỏ và thanh niên kéo tới đông như hội. Càng đông, tôi càng mừng, tôi mời mọi người cùng đứng vào để chụp cảnh ủng hộ nước cho BĐBP. Ông Khiào hỏi vui:
- Bao giờ có ảnh đấy?
- Hôm nào chỉ huy đồn ra ngoài đó họp sẽ mang về.
- Thế khi nào anh lại đến với Cải Viên?
- Sang năm.
- Thế sang năm còn chụp ảnh lấy nước nữa không?
- Lúc đó chụp ảnh uống rượu thôi.
Tất cả cùng phá lên cười.
Ở Đồn Vân An thì cảnh sống và sinh hoạt của cán bộ, chiến sĩ còn khắc nghiệt hơn nhiều. Không hiểu vì lý do gì mà đồn phải đóng trên đỉnh núi, bốn bề là vực thẳm, bản gần đồn nhất là Lũng Rẩu. Chỉ có một mỏ nước dưới chân núi, hằng ngày chiến sĩ trực chờ cũng chỉ lấy được chừng bốn gánh.
Đó là kỷ niệm với những chiến sĩ mang quân hàm xanh cách đây đã hơn ba mươi năm. Hồi ức một thời hiện về như dấu ấn lịch sử còn lưu lại trong trí nhớ của những người từng chứng kiến, từng trải nghiệm và từng sống trên vùng đất rất khắc nghiệt này.

Sau hơn ba mươi năm với công cuộc đổi mới của đất nước, bộ mặt nông thôn vùng cao đã đổi thay nhiều. Cuộc sống và sinh hoạt của cán bộ, chiến sĩ biên phòng cũng không ngừng được cải thiện nhưng vẫn phải hy sinh nhiều lợi ích cá nhân để gìn giữ sự bình yên nơi biên cương của Tổ quốc.                                            

Phan Nguyệt

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh