Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

“Ba chàng ngự lâm” dưới chân núi Phja Phủ

Thứ bảy 15/04/2017 06:00

Trong bán kính cỏn con của huyện Trùng Khánh (Cao Bằng) có đến 3 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam là người dân tộc Tày đã từng đoạt giải thưởng văn chương trong nước và quốc tế uy tín. Đó là nhà thơ Hứa Vĩnh Sước - Y Phương - Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (năm 2007); 10 năm sau, nhà văn Cao Duy Sơn cũng nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (năm 2017) và nhà thơ Nguyễn Tuấn - Từ Ngàn Phố - Giải thưởng cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1984), tuần báo Văn nghệ 1998 - 2000 và mới đây là Giải thưởng văn học đề tài công nhân (2010 - 2014).
Phải chăng miền biên viễn phía Bắc được thiên nhiên hào phóng ưu đãi cho nhiều “đặc sản” độc đáo: miên man đá, ầm ào gió, sóng sánh thác, muôn hình vạn trạng hang động, dạt dào sông Quây Sơn… đã dung dưỡng, tạo nên tố chất văn chương cho ba chàng trai Tày sinh ra dưới chân núi Phja Phủ (núi võ).

“NGƯỜI TỰ ĐỤC ĐÁ KÊ CAO QUÊ HƯƠNG”

Y Phương chào đời năm 1948 đúng ở cái nôi làng Hiếu Lễ (Trùng Khánh), xứ sở gốc gác của người Tày. Anh là một gương mặt thơ tiêu biểu của nền thi ca nước nhà với một phong cách độc đáo, đặc trưng vùng văn hóa Tày. Với ý thức đi tìm cái mới, cái đẹp, Y Phương tâm niệm: “Văn chương là một việc làm trả ơn những người sinh thành và nuôi dưỡng mình”. Vì thế, 45 năm qua, anh lặng lẽ sáng tác, lặng lẽ thử nghiệm, không ngừng sáng tạo để công bố một tập kịch; chín tập thơ, trường ca; ba tập tản văn; một tập lý luận phê bình.

Tên tuổi Y Phương gắn với những “Mùa hoa” giải thưởng: Giải A cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội 1984; Giải A của Hội Nhà văn Việt Nam (1987) với tập thơ "Tiếng hát tháng Giêng"; Giải A của Hội đồng Văn học dân tộc (Hội Nhà văn Việt Nam) với tập thơ "Lời chúc"; Giải B của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học, Nghệ thuật Việt Nam, Giải B của Bộ Quốc phòng với trường ca "Chín tháng" (2001), Giải thưởng văn học của Hội Nhà văn Việt Nam cho tập thơ song ngữ “Vũ khúc Tày”, Giải B cho giải thưởng văn học nghệ thuật năm 2016 của Hội Văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số cho tản văn “Fừn nèn”. Y Phương vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật (năm 2007). Nhưng có một Giải thưởng khác tinh diệu hơn lại nằm trong trái tim yêu mến của độc giả bởi sức lan tỏa tự thân tác phẩm. 

“Mẫu số chung” sáng tác của Y Phương và hai người bạn Trùng Khánh là bản sắc văn hóa người miền núi. Điều quan trọng là trên nền đó, anh đã tìm được lối đi riêng để làm nên phong cách độc đáo - một phong cách có cội nguồn từ sự “săn lùng” cái mới, cái đẹp. Với ý thức đó, ngôn từ trong sáng tác của anh có sức gợi một cách ấn tượng. Sáng tác của Y Phương được ví như “bức tranh thổ cẩm” đan dệt nhiều màu sắc mà trong đó bản sắc dân tộc vẫn là tông màu chủ đạo, thổi vào làng thơ Việt Nam một ngọn gió riêng, đậm đà bản sắc dân tộc Tày quê hương và vùng dân tộc miền núi phía Bắc.

Thừa kế và sở hữu một kho tàng văn hóa Tày truyền thống vững chắc, anh nương vào các thể loại thơ, tản văn để truyền tải những lát cắt muôn màu về đời sống, sinh hoạt, phong tục tập quán, ngôn ngữ, ẩm thực, trang phục… của quê hương, dân tộc. Dấu ấn văn hóa Tày hiện lên đậm nét, độc đáo. Anh coi trọng giá trị văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần bền vững nhất. Tác phẩm của Y Phương đậm không khí và suy nghĩ của người miền núi. Dù sống ở đâu, dẫu có “bứng ra khỏi đất Tày”, anh vẫn là người con trai làng Hiếu Lễ không nhòe lẫn.  Và Y Phương làm cuộc hành trình “Ngược gió”, đằm trong ký ức chiến tranh qua trường ca “Chín tháng”, “Đò trăng”; trăn trở “Tháng Giêng - tháng Giêng một vòng dao quắm”, “Kungfu người Co Xàu”, “Fừn nèn”; miên man trong “Vũ khúc Tày”… để say trong tình yêu quê hương da diết, cháy bỏng đậm đà bản sắc văn hóa Tày. Sáng tác của anh thể hiện một cách trung thực cuộc sống với cách nghĩ, cách cảm giản dị mà hiện đại, hồn nhiên như gió núi, cây rừng, thơm như hương tràm tháng Tám, ngạt ngào như hoa bjoóc phon trên núi. Cái hay, cái đẹp của thiên nhiên và con người miền núi qua đó càng thêm rực sáng trong văn chương.

NGƯỜI ĐƯỢC “ĂN LỘC” QUÊ HƯƠNG MIỀN NÚI

 Nguyễn Cao Sơn - Cao Duy Sơn, sinh năm 1956 tại đất Co Xàu (tên gọi cũ của thị trấn Trùng Khánh) - một thị trấn cổ rất nổi tiếng của huyện Trùng Khánh. Hiện anh là Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa các dân tộc thiểu số.

Nếu hai bạn văn núi võ: Y Phương và Từ Ngàn Phố thành danh ở lĩnh vực thơ, thì thành công của Cao Duy Sơn ở chính văn xuôi. Anh viết chắc, sung sức với 5 tiểu thuyết: "Người lang thang", "Cực lạc", "Hoa mận đỏ", "Đàn trời" và "Chòm ba nhà"; 4 tập truyện ngắn đậm dấu ấn quê hương "Những chuyện ở lũng Co Xàu", "Những đám mây hình người", "Hoa bay cuối trời" và "Ngôi nhà xưa bên suối" cùng những tác phẩm khác.

Tiếp xúc với Cao Duy Sơn, điều dễ nhận thấy là độ đằm chắc suy tư, kỹ tính, trách nhiệm với “đứa con tinh thần” của mình. Xa lạ với sự ồn ào, náo nhiệt, anh cặm cụi viết, miệt mài nghĩ suy như cái “kiếp giời đày” nhọc nhằn, khổ ải trên “cánh đồng chữ”; viết như một nhu cầu tự thân, như cơm ăn, nước uống, gió trời, như tình yêu đến, như duyên đàn bà làm trái tim loạn nhịp; viết để thả những buồn vui, gieo đời mình vào từng con chữ để cuối cùng kết quả lao động sáng tạo đã thăng hoa thỏa lòng đam mê.
Với Cao Duy Sơn, nhà văn chỉ có một nhiệm vụ sống và viết. Dù không đặt ra mục đích, nhưng giải thưởng văn chương cứ lặng lẽ đến với nhà văn đang độ sung sức với 2 lần đoạt giải A Giải thưởng Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam và Giải thưởng Văn học ASEAN. Anh là người đàn ông rất có duyên với “cú đúp” văn chương: Tiểu thuyết "Người lang thang" đoạt giải A của Hội đồng Văn học Dân tộc và Miền núi (Hội Nhà văn Việt Nam) và giải Nhì Hội Hữu nghị Việt - Nhật; tập truyện ngắn "Ngôi nhà xưa bên suối" đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (2007), nhận Giải thưởng ASEAN (2009). "Đàn trời" (2006) lọt vào chung khảo cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn giai đoạn 2004 - 2008, cùng “Chòm ba nhà” (năm 2009) - là tác phẩm duy nhất được trao giải A Giải thưởng văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2006. Cao Duy Sơn là một trong 8 tác giả tiêu biểu vinh dự nhận giải thưởng Văn học Đông Nam Á, được Hoàng Thái tử Thái Lan Maha Vajiralongkorn cùng phu nhân đích thân trao giải thưởng. 

Cảm xúc về quê hương luôn thường trực. Anh hóa thân trong từng hơi thở, đất đai quê hương để viết. Những trang viết của anh chắt ra từ cuộc sống muôn màu và những trải nghiệm cuộc đời. Sức hút từ các tác phẩm của người “đào vàng văn chương” trên núi chính là cách nhà văn chuyển tải nét văn hóa của đồng bào miền núi, khai thác tận vào những điều sâu thẳm và cả những bi kịch phận người. Chính vì thế, câu chuyện của Cao Duy Sơn không đơn thuần dừng ở chuyện kể mà là sức khám phá về đất và người miền núi. Những bộ phim “Khỏa nước sông Quy” (đạo diễn Trần Vịnh, chuyển thể từ tiểu thuyết Hoa mận), “Đàn trời” (đạo diễn Bùi Huy Thuần) đã đưa tên tuổi anh đầy đặn hơn trong lòng công chúng. 

THƠ DẠY HỌC LÀM NGƯỜI HỮU HIỆU
Nguyễn Tuấn - Từ Ngàn Phố, sinh năm 1953 tại thị trấn Trùng Khánh. Cũng như thế hệ trẻ thời đó, năm 1971, anh tòng quân, tham gia Binh chủng Tăng thiết giáp. Sau khi miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, anh và những người bạn tiếp tục trở lại con đường học vấn dang dở. Năm 1981, anh tốt nghiệp khoa Văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và từ đó gắn bó cuộc đời mình với nghề báo, nghề văn.

Từ Ngàn Phố bắt đầu in thơ từ năm 1973 với những tập thơ: "Lửa mẹ cho" (1986), "Anh vẫn học cách yêu của cỏ" (1995), "Trán đá" (2009). Và anh cũng là người có duyên với giải thưởng văn học. Đó là Giải C cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ quân đội 1984 với tác phẩm "Thâm Tâm một chiều biên giới"; Tặng thưởng thơ tạp chí Văn nghệ quân đội 1986; Giải C cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ 1998 - 2000 cho tác phẩm "Thư gửi mẹ"; Giải C cho cuộc vận động sáng tác văn học về đề tài công nhân và công đoàn giai đoạn 2010 - 2014 cho tập thơ “Trán đá”.

Anh suy nghĩ về nghề văn khá gần với quan điểm của hai người bạn quê hương “Thơ là một trong những phương cách dạy và học làm người hữu hiệu. Những phẩm chất của thơ cũng là tiêu chí cuốn hút tâm sức sáng tạo của nhà thơ - theo tôi đó là: cao, sâu và trong. Tôi suốt đời học hỏi và phấn đấu theo hướng đó”.

Lời kết

Điều dễ thấy ở cả "Ba chàng ngự lâm” sinh ra dưới chân núi Phja Phủ là tình yêu máu thịt với mảnh đất nơi mình cất tiếng khóc chào đời. Các tác phẩm của ba nhà văn Trùng Khánh vì thế đều có “mẫu số chung” lấp lánh vùng quê đá thô tháp nhưng rất trữ tình, đẹp tựa tranh thủy mặc với thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao, sông Quây Sơn, những đồng lúa như con sóng đuổi dập dờn dưới chân núi cao ngất.

Nhà văn Cao Duy Sơn chia sẻ “Có lẽ tôi không bao giờ tách rời mình khỏi mảnh đất ấy được. Khi bắt đầu viết văn và ý thức về nghề viết, tôi đã nghĩ, cái tên của thị trấn mình đã mang một sứ mệnh văn chương nào đó không thể lý giải”. 

Trả ơn nơi sinh thành - Trùng Khánh là vùng đất đầy tinh thần thượng võ giàu truyền thống văn hóa, Y Phương đã viết những bài thơ quê hương. Chỉ có gắn bó máu thịt với mảnh đất này mới rút ruột để biết gió Phủ Trùng “thổi ầm ầm, dội ào ào” đến mức: “Chén rượu vừa rót ra/Đã lạt đi một nửa/Chén trà vừa rót ra/Đã nguội tanh nguội ngắt/Có thứ gió làm cho người mốc thếch/Lửa lung lay không thổi chín nồi cơm” (Gió Phủ Trùng).

Lúc đầu tôi ngỡ bút danh Từ Ngàn Phố có gắn với kỷ niệm con sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu. Nhưng không, tình yêu quê đậm sâu đến mức dù đã rời Trùng Khánh mà vẫn vấn vương. Cái tên Từ Ngàn Phố đánh dấu một chặng đường lịch sử văn nghiệp của anh. Hầu hết sáng tác của anh là miền ký ức không quên dành cho quê như: “Cao Bằng, nhớ…”, “Sông Bằng”, “Anh lên thị xã Cao Bằng”, “Tiếng đàn”… cứ chuếnh choáng như người say, “lênh láng màu chàm”.

Cắt nghĩa “mẫu số chung” căn nguyên tình yêu quê hương nặng lòng đến thế, nhà thơ Y Phương nói “Cả ba chúng tôi: Cao Duy Sơn, Từ Ngàn Phố và tôi cùng cất tiếng khóc chào đời ở quanh quanh chân núi Phja Phủ. Chúng tôi cùng uống một nguồn nước mỏ làng Hiếu Lễ. Cùng ăn cùng một thứ gạo làng Nà Mò. Cùng nhai cùng một thứ ổi xanh gầy đét. Cùng chơi cùng một quả núi trọc. Cùng học cùng những ngôi trường vách đất mái rạ. Đó là trường cấp một, cấp hai, cấp ba thị trấn Trùng Khánh. Chơi cùng trăm bố núi, chín mươi chín mẹ đồi...”.

Thật sự trân quý “Ba chàng ngự lâm” bởi tình yêu, sự trả nghĩa máu thịt với vùng đất nơi họ đã sinh ra, gắn bó và nhất là ý thức bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống.

Trùng Khánh - Vùng đất Võ đã dung dưỡng, ươm trồng chất Văn.

Lê Thị Bích Hồng

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh