Bạn đang xem: Trang chủ » Kinh tế

Sản xuất nông nghiệp sạch đặc hữu - cơ hội và thách thức

Thứ sáu 05/10/2018 17:00

Bài 5: Sản xuất theo chuỗi giá trị, quảng bá, xây dựng thương hiệu còn thiếu và yếu

Sản xuất nông nghiệp sạch đặc hữu (NNSĐH) là một giải pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Đây là hướng đi đúng của ngành nông nghiệp nhưng còn khá mới nên gặp không ít khó khăn, thách thức về sản xuất theo chuỗi giá trị, tuyên truyền quảng bá, tiêu thụ sản phẩm và xây dựng thương hiệu trên thị trường.
Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ tại Cửa hàng rau an toàn và lâm sản sạch Cao Bằng.

CHƯA LIÊN KẾT CHẶT CHẼ TỪ SẢN XUẤT RA THỊ TRƯỜNG
Công ty TNHH Kolia là doanh nghiệp tư nhân đầu tiên đầu tư vào vùng sản xuất nguyên liệu chè sạch chất lượng tại khu vực Phja Oắc, Phja Đén (Nguyên Bình), diện tích khoảng 100 ha (chè của Công ty và các hộ nông dân trong vùng). Trồng và chế biến chè, Công ty áp dụng quy trình hữu cơ organic tiêu chuẩn châu Âu, thực hiện nghiêm kỹ thuật về công nghệ organic quốc tế, tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm VietGAP. Đồng thời, Công ty là đầu mối tiêu thụ sản phẩm cho người dân, tạo thành một chuỗi khép kín trong quy trình sản xuất.
Tuy nhiên, những dây chuyền sản xuất khép kín, theo chuỗi này chưa nhiều trên địa bàn tỉnh. Sản phẩm miến dong Nguyên Bình với hơn 1.000 hộ dân trồng 200 ha cây dong riềng và sản xuất miến dong. Một số hộ dân liên kết thành lập hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất miến dong, mạnh dạn đầu tư hàng trăm triệu đồng để mua máy xát củ, máy lọc bột và máy ép miến để nâng cao chất lượng, tăng số lượng miến cung cấp theo cầu thị trường. Nhưng quy chuẩn cho miến dong Nguyên Bình từ quy cách đóng gói, bao bì, màu sắc chưa thống nhất, đầu ra cho sản phẩm chủ yếu vẫn là người dân tự kết nối với thị trường hoặc với đầu mối tiêu thụ tại chợ thành phố Cao Bằng, tỉnh Thái Nguyên, Hà Nội. Vì vậy, một số tư thương lấy hàng kém chất lượng gắn nhãn mác giả miến dong Nguyên Bình đem bán làm cho người tiêu dùng không yên tâm.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mô hình sản xuất NNSĐH vẫn còn nhỏ lẻ, mang tính tự cấp, tự túc, chưa hình thành quy mô lớn. Thịt bò, thịt lợn đen đồng bào Mông đã xây dựng được thương hiệu nhiều năm qua nhưng đến nay phát triển chăn nuôi tại các huyện: Bảo Lâm, Bảo Lạc, Hà Quảng, Thông Nông... theo hộ chăn nuôi 6 - 10 con/hộ, ít trang trại chăn nuôi lớn. Quýt Trà Lĩnh, Hà Trì, hạt dẻ Trùng Khánh bán nhỏ lẻ chưa có sự kết nối chính thức với công ty, doanh nghiệp nào bán trên thị trường để giữ thương hiệu. Quá trình sản xuất người dân dựa trên tập huấn kỹ thuật về triển khai sản xuất nhưng việc kiểm tra, giám sát, kiểm định, đôn đốc của các cơ quan chức năng tại các hộ nông dân, mô hình sản xuất chưa chặt chẽ. Vì vậy, một số sản phẩm NNSĐH của tỉnh vì không đủ cung cấp nên bị một số tư thương lấy hàng kém chất lượng gắn nhãn mác giả vào bán.
 “GẬP GHỀNH” XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU VÀ CẠNH TRANH TRÊN THỊ TRƯỜNG
Những năm qua, sản phẩm NNSĐH chất lượng tốt trở thành thương hiệu, có mức tiêu thụ lớn, như: miến dong, lạp sườn, thạch đen... mỗi năm cung cấp ra thị trường trong và ngoài tỉnh hàng nghìn tấn, nhưng đa số các sản phẩm này quy mô sản xuất nhỏ, chưa hiện đại nên số lượng và chất lượng hàng hóa không ổn định, hình thức, mẫu mã chưa có quy chuẩn cụ thể, chưa đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng nên khó cạnh tranh được với hàng hóa ngoài tỉnh, sản lượng thiếu trong khi nhu cầu tiêu thụ ở trong tỉnh và các tỉnh lân cận cao.
Các cơ quan chức năng tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền đăng ký sở hữu trí tuệ đối với các đặc sản dưới hình thức chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể. Toàn tỉnh có 109 nhãn hiệu được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp văn bằng bảo hộ. Sau khi có nhãn hiệu, được đăng ký chất lượng hàng hóa, mã số, mã vạch, mẫu bao bì, nhãn hiệu hàng hóa, các sản phẩm NNSĐH có giá trị kinh tế cao hơn, được người tiêu dùng tin cậy, ngày càng mở rộng thị trường trong tỉnh và ngoài tỉnh.
 Bên cạnh sản phẩm đã đăng ký thành công nhãn hiệu, thương hiệu quyền sở hữu còn có sản phẩm gặp khó khăn trong xây dựng thương hiệu phát triển bền vững. Hạt dẻ Trùng Khánh, tháng 3/2011 được đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý nhằm khẳng định thương hiệu riêng, nhưng quá trình chuỗi sản xuất - tiêu thụ tại địa phương còn yếu, cung không đủ cầu. Hạt dẻ Trung Quốc có số lượng lớn lợi dụng thương hiệu “Hạt dẻ Trùng Khánh, Cao Bằng” bán khắp nơi làm giảm lòng tin người tiêu dùng. Miến dong Nguyên Bình, thịt bò... vì sản lượng không đáp ứng thị trường nên bị các tư thương kinh doanh không lành mạnh đã đem hàng kém chất lượng dán mác giả bán ra thị trường...
Theo đồng chí Phan Thị Huyên, Trưởng Phòng Quản lý chuyên ngành, Sở Khoa học và Công nghệ, do sản xuất NNSĐH của tỉnh còn nhỏ lẻ, chưa quy hoạch thành vùng sản xuất lớn nên khó khăn trong việc sản xuất, tiêu thụ, xây dựng thương hiệu các sản phẩm NNSĐH. Người dân chưa thấy được giá trị của việc đăng ký xác lập quyền bảo hộ nhãn hiệu nên chưa làm tăng giá trị của sản phẩm, tính cạnh tranh thấp, hạn chế trong việc tiêu thụ sản phẩm tại các tỉnh, thành.
Do yêu cầu rất cao về chất lượng sản phẩm nên sản xuất NNSĐH đòi hỏi cao hơn về sản xuất, chất lượng sản phẩm và giá thành cao hơn, hướng đến thị trường người tiêu dùng thông minh, có điều kiện tài chính. Nói đến "sản xuất sạch", "sản phẩm sạch" có 2 nhóm, gồm sản phẩm an toàn (có 2 cấp độ: phù hợp quy chuẩn hoặc phù hợp VietGAP - khuyến khích, vì vẫn dùng hóa chất tổng hợp) và sản phẩm hữu cơ, sản xuất hữu cơ không dùng hóa chất. Do đó, sản xuất NNSĐH có nhiều khó khăn:
Chị Đào Thanh Thùy Linh, quản lý cửa hàng bộ phận kinh doanh “Cửa hàng rau an toàn và lâm sản sạch Cao Bằng” cho biết: Từ tháng 7/2018 đến nay, cửa hàng đi vào hoạt động, nhập gần 200 mặt hàng nông nghiệp hữu cơ Cao Bằng, trong đó có sản phẩm NNSĐH của tỉnh. Việc tìm sản phẩm NNSĐH không dễ vì tuân thủ theo tiêu chí “sạch” sẽ phải kiểm tra cả quá trình sản xuất sản phẩm của đơn vị sản xuất (từ 2 - 6 tháng). Để nhập được các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ vào cửa hàng phải thông qua Chi cục Bảo vệ giống vật nuôi, cây trồng kiểm tra, kiểm định quy trình sản xuất và sản phẩm của các hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp sạch. Khách hỏi về sản phẩm chỉ căn cứ vào giới thiệu trên nhãn mác. Nhiều sản phẩm khách hàng hỏi kỹ hơn về chỉ số khoa học, chế biến... thì nhân viên bán hàng rất khó giải thích vì không phải là nhà nghiên cứu, sản xuất sản phẩm. Đây là khâu yếu trong quảng bá sản phẩm NNSĐH của tỉnh.
Theo ông Hoàng Mạnh Ngọc, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp trẻ, yêu cầu của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm ngày càng khắt khe nên đưa thông tin đến khách hàng để đem lại niềm tin cho họ là vấn đề “sống còn” lâu dài, cần được đẩy mạnh của sản phẩm NNSĐH. Những năm qua, việc quảng bá, giới thiệu sản phẩm NNSĐH của tỉnh bằng triển khai các hội chợ, xúc tiến thương mại chưa nhiều, chưa đều nên thông tin đến người tiêu dùng hạn chế.
Trường Hà

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh