Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Xây dựng hậu phương vững mạnh, góp phần chi viện cho cách mạng miền Nam giành thắng lợi (1973 - 1975)

Chủ nhật 07/06/2020 13:00

Cuối năm 1972, những thắng lợi to lớn của quân và dân hai miền Nam, Bắc buộc chính phủ Mỹ phải trở lại đàm phán tại Hội nghị Pa-ri. Ngày 27/1/1973, Hiệp định Pa-ri được ký kết, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam, Chính phủ Mỹ rút hết quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam.

Từ đây, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, miền Bắc trở lại hòa bình, tiếp tục đẩy mạnh khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hậu phương vững chắc, chi viện đắc lực cho miền Nam hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước.
Nhà máy đường Phục Hòa được xây dựng từ năm 1973.
Tháng 4/1973, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh họp bàn phương hướng, nhiệm vụ từ năm 1973 - 1975. Nghị quyết Hội nghị xác định mục tiêu phấn đấu nhằm khai thác, phát huy các thế mạnh của tỉnh, ra sức khôi phục, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, làm tròn nghĩa vụ đối với tiền tuyến miền Nam. Dưới sự chỉ đạo, điều hành của Ủy ban Hành chính tỉnh, nhân dân các dân tộc Cao Bằng đã khắc phục khó khăn, vươn lên và đạt những thành tựu quan trọng trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh.
Trong sản xuất nông, lâm nghiệp, nhiệm vụ trọng tâm cấp bách hàng đầu là củng cố, giữ vững và phát triển hợp tác xã. Đến cuối năm 1973, một số huyện trong tỉnh có số hộ nông dân vào hợp tác xã chiếm tỷ lệ cao, như: huyện Hòa An đạt 98%, huyện Trùng Khánh đạt 97%. Phong trào hợp tác hóa ở vùng định canh, định cư cũng đạt thành tích mới; từ năm 1973 - 1975, toàn tỉnh xây dựng 45 hợp tác xã với 1.700 hộ gia đình ổn định đời sống, lấy nghề rừng làm hướng phát triển sản xuất kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nhờ đó, sản lượng lương thực năm 1974 đạt 125.000 tấn, năm 1975 tăng lên 135.350 tấn. Chăn nuôi được quan tâm phát triển, tổng đàn trâu có 69.000 con, bò 53.300 con, lợn 1,3 vạn con. Ngành lâm nghiệp chú trọng công tác trồng cây, bảo vệ và khai thác rừng. Năm 1974 - 1975, các lâm trường quốc doanh trồng được 761 ha rừng, chăm sóc 2.037 ha, tu bổ 1.089 ha; đến năm 1975, toàn tỉnh trồng được 3.200 ha trẩu, nâng tổng diện tích trồng trẩu lên 5.000 ha.
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp từng bước thực hiện hạch toán kinh doanh gắn với thị trường tiêu thụ; đồng thời hợp nhất một số xí nghiệp phù hợp với tình hình sản xuất và mạnh dạn giải thể những xí nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả. Tăng cường vốn đầu tư cho các ngành công nghiệp mũi nhọn, phát huy các ngành nghề thủ công truyền thống. Năm 1973, tỉnh xây dựng và hoàn thành một số công trình phục vụ sản xuất như: Nhà máy điện Điêzen tại Thị xã, Nhà máy Xi măng Nguyên Bình, Nhà máy giấy Kim Đồng, Nhà máy đường Phục Hòa. Vì vậy, giá trị sản lượng công nghiệp của địa phương tăng lên đáng kể. Năm 1975, tổng giá trị sản lượng công nghiệp tăng 26,6% so với năm 1974.
Lĩnh vực giao thông - vận tải, các tuyến đường liên huyện, liên tỉnh tiếp tục được sửa chữa, nâng cấp; phong trào làm đường giao thông phát triển, các huyện: Bảo Lạc, Thạch An, Quảng Hòa, Trùng Khánh làm đường đến các xã, xóm và cải tạo, tu bổ một số đoạn đường cũ đảm bảo giao thông đi lại thuận lợi. Năm 1974, ngành giao thông vận chuyển 314.988 lượt người, tăng 17% so với năm 1973; năm 1975 vận chuyển 200.080 tấn hàng, 4.680.000 lượt người, tăng vượt bậc so với năm 1974.  
Về sự nghiệp văn hóa, xã hội, hệ thống giáo dục phổ thông tiếp tục củng cố và phát triển, tỷ lệ học sinh đến trường tăng cao. Năm học 1973 - 1974, học sinh cấp I tăng 57%, cấp II tăng 16%, cấp III tăng 33,87% so với năm học trước; năm học 1974 - 1975, số lượng học sinh đến trường tiếp tục tăng so với năm học trước, tỉnh mở Trường Bổ túc văn hóa cấp II, III tại Thị xã. Số trường, lớp và giáo viên tăng lên qua các năm học. Năm học 1973 - 1974, toàn tỉnh có 351 trường phổ thông, 2.479 lớp, 2.757 giáo viên; năm học 1974 - 1975 có 390 trường, 2.531 lớp, 3.062 giáo viên.
Công tác y tế có nhiều cố gắng trong khám, chữa bệnh cho nhân dân, năm 1974, toàn ngành có 1.680 giường bệnh, năm 1975 có 1.900 giường bệnh, 95% dân số được tiêm phòng, mạng lưới y tế phát triển đến các xã biên giới. Các loại dịch bệnh bị dập tắt khi vừa phát sinh. Hoạt động văn hóa, thể thao năm 1973 - 1975 trở thành phong trào quần chúng trên khắp các địa bàn trong tỉnh, nhất là các đơn vị bộ đội, cơ quan, xí nghiệp.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 10, công tác quốc phòng - an ninh luôn đề cao cảnh giác cách mạng, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang, đảm bảo trật tự an ninh biên giới và nội địa, đáp ứng chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam ruột thịt. Với phương châm củng cố bộ đội địa phương phải đảm bảo tinh gọn, trở thành lực lượng nòng cốt trong việc phát triển dân quân tự vệ, năm 1973, tỉnh củng cố 156/178 cơ sở dân quân xã, 110/125 cơ sở tự vệ các cơ quan, xí nghiệp với tổng số 26.428 dân quân tự vệ, bằng 10,7% dân số trong toàn tỉnh, góp phần kiểm soát toàn bộ địa bàn từ biên giới đến nội địa.
Thực hiện phong trào “ba sẵn sàng”, con em các dân tộc trong tỉnh nô nức tình nguyện xung phong đăng ký nhập ngũ tham gia chiến đấu giải phóng miền Nam. Năm 1973, chất lượng tuyển quân đợt một đạt 105% kế hoạch, đợt hai đạt 100,7% kế hoạch. Năm 1975, toàn tỉnh tuyển 2.685 quân, đạt 100% kế hoạch và giao quân đúng thời gian quy định, tăng gấp hai lần so với năm 1974.
Suốt 20 năm, với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, nhân dân các dân tộc Cao Bằng cùng cả nước đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam. Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong bối cảnh vừa khắc phục hậu quả chiến tranh do đế quốc Mỹ “leo thang” ra miền Bắc, vừa nhanh chóng khôi phục kinh tế - xã hội và giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia nhưng Cao Bằng vẫn luôn hướng về miền Nam thân yêu với tinh thần chi viện “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Đảng bộ, nhân dân toàn tỉnh lần lượt tiễn đưa con em lên đường vào Nam chiến đấu, “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” và ngày đêm ngóng chờ từng tin chiến thắng từ miền Nam.
Ước nguyện giải phóng miền Nam của cả dân tộc đã trở thành hiện thực khi Đài Tiếng nói Việt Nam đưa tin: Đúng 11h30’ ngày 30/4/1975, tại Dinh Độc Lập, Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các ngụy quyền Sài Gòn đã tuyên bố đầu hàng Quân giải phóng. Cả nước hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, Tổ quốc thống nhất cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hòa chung với không khí hân hoan ngày hội toàn thắng của non sông, Đảng bộ và nhân dân Cao Bằng phấn khởi, tự hào đã góp phần xứng đáng vào thành quả cách mạng vĩ đại của cả nước, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Kỳ sau: Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976 - 1980)

Lê Chí Thanh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh