Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Vang mãi bản hùng ca trên Đường 4 rực lửa

Thứ tư 23/09/2020 05:00

Bài 4: Vang dội Chiến thắng Đông Khê mở đường giải phóng Cao Bằng

Bây giờ đến Đông Khê (Thạch An) là thị trấn sầm uất, khó nhận ra nơi đây đã từng là tuyến lửa của “máu và hoa”. Ông Đặng Văn Việt, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 khẳng định: Từ tháng 5 - 9/1950, quân ta hai lần tổ chức đánh vào cứ điểm Đông Khê. Chiến thắng của trận thứ nhất làm nền tảng, kinh nghiệm cho trận thứ hai đánh quy mô lớn toàn diện hơn, góp phần vào thành công lớn của Chiến dịch Biên giới năm 1950, giải phóng Cao Bằng, mở toang cửa ngõ biên giới phía Bắc.

Lô cốt, hầm công sự quân Pháp xây dựng trên Đồn Đông Khê (Thạch An) - nơi diễn ra những trận đánh quyết liệt của quân đội ta.

TRẬN MỞ ĐẦU BẤT NGỜ ĐÁNH CÔNG KIÊN THỌC SÂU

Đầu năm 1950, quân Pháp phải rút khỏi 41 vị trí các huyện, nhưng chúng vẫn cố bám lấy Thị xã và Đông Khê. Sau khi phân tích tình hình, Bộ Tổng tư lệnh đã quyết định mở Chiến dịch Phan Đình Phùng đánh Đông Khê lần thứ nhất nhằm tiêu diệt một phần sinh lực địch và để rút kinh nghiệm trong việc huấn luyện bộ đội. Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 174 đánh trực tiếp vào Đông Khê.

Ông Đặng Văn Việt bồi hồi kể lại: Khi nhận nhiệm vụ của Bộ Tổng tư lệnh giao, tôi vinh dự vì đơn vị mình được cấp trên tin tưởng song cũng nhận thấy trọng trách trên vai. Quân đội của ta tuy trưởng thành hơn qua nhiều trận đánh lớn nhỏ nhưng so với quân Pháp ta vẫn yếu và thiếu về binh lực, sự thiện chiến, vũ khí, không có máy bay yểm trợ… Tôi cùng đội trinh sát đến tập kết tại xã Vân Trình, cách Đông Khê 10 km trực tiếp đi tìm hiểu địa bàn. Quân Pháp chia Đông Khê làm 6 khu đề kháng.  

Ông Đặng Văn Việt, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 kể lại hai lần chỉ đạo đơn vị đánh chiếm Đông Khê.

Dựa vào địa thế thuận lợi, quân Pháp bố trí binh lực Đông Khê theo hình tháp. Nơi cao nhất ở đồi Cạm Phầy là hệ thống lô cốt hầm hào kiên cố chỉ huy, phía dưới chân đồi chúng bố trí lô cốt dày đặc theo bốn hướng án ngữ. Như vậy, nếu đánh Đông Khê từ dưới lên cao thì quân Pháp trên lô cốt Cạm Phầy sẽ quan sát được hết các mũi tiến công của quân ta để nã hỏa lực… gây thương vong, khó tiến công để đánh chiếm cứ điểm này.

Vì vậy, quân ta chọn lối đánh thọc sâu trận đầu tiên đánh ngay vào hệ thống lô cốt trên đỉnh đồi Cạm Phầy, sau đó sẽ đánh tỏa xuống các lô cốt phía dưới chân đồi. Đồng thời đề xuất các mũi khác đánh nghi binh để quân Pháp mất phương hướng thì quân ta mới bất ngờ tấn công đánh công kiên thọc sâu lên đỉnh đồi Cạm Phầy.

Bộ Tổng tư lệnh nhất trí lối đánh chiến thuật, đánh ghi binh trước rồi bất ngờ đánh công kiên, thọc sâu vào Đông Khê khiến địch không kịp trở tay. Mọi công việc chuẩn bị cho cuộc công kích khẩn trương triển khai, như: vận tải tiếp tế, phá hoại Đường số 4, đường Thị xã đi Hòa An, Thị xã đi Án Lại (Hòa An) để ngăn cản địch tiếp tế và rút lui... Tổng cộng quân ta có 5.144 người với 5 đại bác, 60 súng cối 81 ly, 41 đại liên, 104 trung liên, 50 tiểu liên, 5 bazôca, 1.000 súng trường.

Đêm 25/5/1950, ở mặt trận nghi binh, ta bất ngờ nổ súng vào Thị xã và sân bay Nà Cạn thu hút sự tập trung của quân Pháp vào hướng Thị xã. Dưới Đông Khê sẵn sàng tác chiến thì hạ lệnh tiến công, luc đó trời đổ mưa to, nước ngập đầy đường, khe suối, bộ đội ta phải gồng mình hành quân trong mưa, kịp thời đến địa điểm Sở Chỉ huy và trận địa pháo trên dãy núi Yên Ngựa, cách thị trấn Đông Khê 300 m.

Đúng 5 giờ sáng 26/5/1950, Trung đoàn 174 công kích từ dãy núi Yên Ngựa nã pháo vào Cạm Phầy. Đây là lần đầu tiên Trung đoàn đánh hiệp đồng bộ pháo. Bị bất ngờ tấn công Đông Khê, binh lính địch trú trong đồn chạy tán loạn, tên quan ba Cadanôva vừa chạy đến đài chỉ huy thì bị đại bác ta bắn trúng.

Trận đánh diễn ra ác liệt, pháo ta nã đạn dồn dập vào pháo đài, đồn Nha và một phần công sự Đông Khê bị sụp đổ, các kho bốc cháy. Đêm 26, rạng sáng 27/5/1950, phần lớn công sự địch bị phá hủy, tinh thần binh lính khiếp sợ. Trước tình hình đó, quân ta quyết định tổng công kích. 21 giờ, ta tiêu diệt Đồn Cạm Phầy, 23 giờ ta phá hàng rào dây thép gai đồn Nhà Thương và tiêu diệt đồn này.

Trọng pháo ta nã đạn vào pháo đài, đồn Nha để yểm trợ cho bộ binh xông lên. Tên quan hai Laphông và 10 tên địch chạy về đến đèo Bông Lau thì bị ta bắt sống. 24 giờ, ta cắm cờ chiến thắng lên pháo đài, đồng thời đánh chiếm các đồn nhà Phủ Thiện, Ký Sáu, Pò Đình, Pò Hẩu. Đến 5 giờ 15’ ngày 27/5/1950, tại đồn Phja Khóa, quân địch kéo cờ trắng xin hàng. Đông Khê hoàn toàn giải phóng.

Anh hùng La Văn Cầu kể chuyện lịch sử về trận đánh Đồn Đông Khê. Ảnh: Thu Hằng

Phía ta thu được nhiều vũ khí của quân Pháp và nhiều tài liệu quan trọng. Địch bị tiêu diệt 377 tên, trong đó có tên quan ba Cadanôva. Ngoài ra, ta còn bắt sống 73 tên (có 2 quan ba, 1 quan một, 1 đội, 2 cai, 1 lính Pháp, 19 lính da đen) còn lại là ngụy binh.

Trận đánh Đồn Đông Khê lần thứ nhất là trận công kiên quy mô lớn đánh vào pháo đài kiên cố của địch. Qua chiến đấu, quân ta có thêm kinh nghiệm để đánh thắng trận Đông Khê lần thứ hai trong

CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI NĂM 1950.ĐÔNG KHÊ RẠNG RỠ CHIẾN CÔNG

Để cứu vãn cho sự thất bại cứ điểm Đông Khê, giữ lại lá chắn quan trọng nhất ở Cao Bằng, ngày 27/5/1950, quân Pháp đưa một tiểu đoàn nhảy dù xuống chiếm lại Đông Khê, tăng thêm bộ binh, củng cố lại trận địa để giữ con đường tiếp tế cho quân Pháp đóng ở Cao Bằng. Sau khi chiếm lại Đông Khê, quân Pháp tăng cường càn quét, phá hoại các địa bàn dọc Đường số 4.

Từ Thị xã chúng mở trận càn lớn ra Tài Hồ Sìn đến Bản Tấn, Bình Dương và tấn công lên khu căn cứ Lam Sơn (Hòa An); tiến quân chiếm Khau Đồn và Sông Mãng… nhưng phía ta chủ động đối phó dập tan âm mưu của địch, buộc chúng phải co cụm về Thị xã. Để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị cho cuộc tấn công mới, bộ đội ta tạm rút lui khỏi Đông Khê.

Tháng 6/1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới mang tên Lê Hồng Phong II và chọn đánh vào Đông Khê mở màn Chiến dịch. Từ trận đánh Đồn Đông Khê lần thứ nhất (5/1950), quân và dân ta đã có nhiều kinh nghiệm hơn trong đánh “công điểm, diệt viện”.

Nhớ lại lần thứ 2 đánh trận Đông Khê, mở màn Chiến dịch Biên giới, ông Đặng Văn Việt kể: Sau khi chiếm lại Đông Khê, chỉ 4 tháng (5 - 9/1950), quân Pháp tăng cường dày đặc hệ thống hầm ngầm, lô cốt, hàng rào dây thép gai, pháo binh… để phòng ngự rất lợi hại. Nắm chắc tình hình quân Pháp, được sự đồng ý của Bộ Tư lệnh Liên khu 1, Sở Chỉ huy đặt ở trên núi Pác Phiêng, phía Đông thị trấn Đông Khê. Trung đoàn 174 chủ động tiến công vào Đông Khê hướng Bắc và Đông Bắc. Dưới chân núi Nà Gianh, tôi phân công Tiểu đoàn 251 do Nguyễn Hữu An chỉ huy ở hướng chính diện đánh lên pháo đài.

Tiểu đoàn 249 của Lê Hoàn đánh chiếm đồi Yên Ngựa, Cạm Phầy - Phja Khóa thốc xuống nhà thương dưới phố. Tiểu đoàn 250 của Khai Tâm làm dự bị. Tiểu đoàn 11 và 426 phối thuộc bố trí ở Nà Cốc phía Bắc để chủ động đánh quân nhảy dù tiếp tế và khống chế đồn Nà Cúm. Trung đoàn 209 do đồng chí Lê Trọng Tấn chỉ huy tiến vào phía Nam, Tiểu đoàn 178 bố trí 14 khẩu pháo ở phía Đông. Đại đoàn 308 là lực lượng dự bị.

Khoảng 5 giờ sáng, tôi báo cáo Sở Chỉ huy hoàn tất các mũi tiến công, đúng 6 giờ ngày 16/9/1950, quân ta nổ súng đánh Đồn Đông Khê. Trong lúc pháo của ta đồng loạt cấp tập giáng xuống các cứ điểm địch, đội xung kích đánh bộc phá thông cửa, mở đường để bộ binh xông tới. Đến 9 giờ, ta chiếm được Yên Ngựa, 10 giờ 30’ chiếm Phja Khóa; hướng Tây Nam, ta diệt đồn Pò Đình, Pò Hẩu. Ngày 17/9/1950 là ngày chiến đấu ác liệt nhất, đến chiều vẫn chưa tiến công dứt điểm đánh thắng Đông Khê.

Tôi và đồng chí Chu Huy Mân tính toán lại thực lực và bàn thống nhất đêm nay sẽ chuyển hướng đánh đột phá vào phía Đông của pháo đài, bỏ hướng Bắc vì quân địch phòng bị quá kỹ. Đề nghị Tiểu đoàn 209 cho một mũi phối hợp đánh thốc từ phía Nam lên, một mũi đột phá sau lưng pháo đài. Một trung đoàn đột phá hướng Đông Bắc. Phối hợp chặt chẽ bộ binh và pháo binh. Chiến thuật tôi đưa ra được Sở Chỉ huy đồng ý, 18 giờ 30 được cấp trên ra lệnh tổng công kích. Đúng như kế hoạch chiến thuật, sau đợt áp đảo dữ dội các mũi tiến công của quân ta đã mở trận đột phá.

Tiểu đoàn 251 của Trung đoàn 174 đột kích phía Đông pháo đài, chiến sĩ La Văn Cầu có nhiệm vụ đánh bộc phá lô cốt phía Đông Bắc pháo đài Đông Khê, anh dũng cảm ôm bộc phá xông trong làn đạn bắn như mưa, khiến anh bị bắn nát cánh tay phải, tuột xuống chân đồi. Anh Cầu nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay phải bị thương, còn tay trái vẫn ôm bộc phá tiếp tục xông lên dí bộc phá vào lỗ châu mai, dùng răng giật kíp nổ, rồi tay trái đẩy quả bộc phá lăn vào trong lô cốt nổ tung.

Địch mất phương hướng, các đơn vị của ta từ hướng Bắc và Nam xông lên cùng đánh thọc sâu vào phía sau pháo đài, quân Pháp không kịp trở tay bị ta đánh tan tác. Tên đại úy, đồn trưởng A-ti-úc cùng mấy tên sĩ quan tham mưu định chạy trốn qua hàng rào phía Đông Nam nhưng bị bắt. 4 giờ 30’ ngày 18/9/1950, quân ta đã phối hợp đánh chiếm toàn bộ đồn chính. Quân địch bỏ chạy, ta tập trung truy kích bắt toàn bộ chúng ở vùng ngoại vi.

Chị Định Thị Dậu đi trong lửa đạn cõng thương binh về hậu tuyến cứu chữa. Tranh: T.L

Chỉ sau 54 giờ chiến đấu với những chiến thuật linh hoạt, dũng cảm, quân ta đã đập tan cụm cứ điểm Đông Khê, một cụm cứ điểm mạnh của địch. Trận đánh Đồn Đông Khê kết thúc 10 giờ ngày 18/9/1950 trong tiếng reo hò, hoan hô chiến thắng của quân và dân ta lan rộng khắp thị trấn và các xã lân cận. Ta tiêu diệt và bắt sống 300 tên địch, bắn rơi 1 máy bay, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.

Trong trận công kích lớn này, quân và dân ta có nhiều tấm gương chiến đấu ngoan cường, dũng cảm như: Tiểu đội phó La Văn Cầu chặt cánh tay, đánh bộc phá lô cốt hướng Bắc. Đại đội trưởng Trần Cừ dẫn đầu đại đội xông lên đánh vào đồn chính, tuy hai chân bị thương nặng, anh vẫn cố hết sức lết vào lấy thân mình lấp lỗ châu mai bịt hỏa lực địch và hy sinh anh dũng. Tiểu đội trưởng bộc phá Lý Viết Mưu mưu trí, dũng cảm tìm mọi cách đánh địch, dù bị thương nặng nhưng vẫn cố trườn lên đẩy khối thuốc nổ 12 kg phá sập hầm địch, tạo cửa mở cho quân ta đánh chiếm đồn.

Nhiều chị em dân công tiêu biểu như các chị Đinh Thị Dậu đi trong lửa đạn cõng thương binh đưa về hậu tuyến. Chị Đinh Thị Bỏng dẫn đầu 38 chị em dân công xã Đức Xuân suốt ngày đêm phục vụ chiến dịch tiếp đạn ra trận địa, cõng thương binh ra phía sau cứu chữa dưới làn pháo binh của quân địch dội ác liệt... Mỗi một tấc đất nơi đây là máu xương của các anh hùng, liệt sĩ đã đổ xuống để nở những đóa hoa chiến công rạng rỡ Chiến dịch Biên giới năm 1950.

Đúng như Đảng ủy Mặt trận Chiến dịch Biên giới dự đoán, khi ta đánh thắng Đông Khê, quân Pháp vội vàng cho rút quân khỏi thị xã Cao Bằng chạy xuôi theo Đường số 4 xuống Đông Khê, phía ta chặn đánh, bắt gọn quân địch, giải phóng hoàn toàn Cao Bằng, mở toang cửa ngõ biên giới phía Bắc.
                      
Bài cuối: Giải phóng Cao Bằng - Bản hùng ca "máu và hoa"

Trường Hà

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh