Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Trấn Cao Bằng xưa - tỉnh Cao Bằng nay

Thứ sáu 16/08/2019 07:00

 Bài 4: Truyền thuyết về Báo Luông - Slao Cải

Hiện nay, ở phía Nam cánh đồng Bản Vạn, xã Bế Triều (Hòa An) vẫn còn một ngôi miếu xây trên gò đất nhỏ. Thoạt nhìn giống như miếu thờ thần Nông ở những cánh đồng khác, nhưng đây là miếu thờ Báo Luông - Slao Cải. Người Tày có truyền thuyết coi đôi vợ chồng này là thủy tổ của mình và gây dựng nền nông nghiệp ở Cao Bằng.

Cánh đồng Bản Vạn, xã Bế Triều (Hòa An). Ảnh: T.V

Truyền thuyết kể: Ngày xưa suốt dọc các con sông còn là sình lầy âm u, rừng núi, cây cối đều là nguyên sinh, rậm rạp um tùm, muông thú hoang dã. Lúc đó xuất hiện hai người cao to (một trai, một gái), mạnh khỏe men dọc dòng nước kiếm thức ăn. Người con gái theo con sông bên phải (tiếng Tày gọi Tả Sloa - nay biến âm thành Tà Sa) đi xuống; người con trai men theo con sông bên trái (Tả Slại), quen gọi là sông Háng Bó (Mỏ Sắt, xã Dân Chủ, Hòa An).
Họ gặp nhau chỗ ngã ba sông (bây giờ gọi là Tả Cáp, Háng Cáp hoặc Nước Hai. Khi đó, hai người chưa có tên gọi, thường gọi nhau mày tao (mầư câu). Còn tên Báo Luông, Slao Cải do đời sau căn cứ vào vóc dáng mà đặt.
Ngã ba sông là vùng bằng phẳng, trống trải, không có chỗ trú mưa, chống lạnh và đề phòng thú dữ khi đêm xuống. Họ đưa nhau sang dãy núi đá phía bên phải, tìm được một cái hang khô ráo, đó là Ngườm Bốc (tức Hang Cạn) thuộc dãy núi đá Lam Sơn, xã Hồng Việt (Hòa An).
Họ sống ở đây một thời gian dài, ngày lên núi săn thú, bắt chim, hoặc ra sông mò cá, tôm..., tối lại về hang ngủ.
Một đêm giông tố ầm ầm, sấm sét đinh tai, đến sáng trời quang mây tạnh, họ ra cửa hang đứng nhìn lên núi phía trên thấy khói lửa ngùn ngụt. Khi đến xem thì ra một cây cổ thụ bị sét đánh, lửa bốc cháy vẫn còn tỏa khói. Họ nhặt xác sóc, tắc kè... cháy đen thui đưa vào miệng nhai thấy thơm ngon hơn ăn sống rất nhiều. Họ bèn cầm một khúc cây đang cháy đem lửa về hang và giữ cho cháy suốt ngày đêm. Nơi lấy được lửa, về sau gọi là Lũng Lửa (Lũng Phầy) - một thung lũng trên dãy núi Lam Sơn, xã Hồng Việt (Hòa An).
Hai người sống với nhau sinh hạ nhiều con. Người đông, hang chật thiếu chỗ để lũ con hiếu động chạy nhảy nên họ di chuyển sang Khau Luông (là một khu đồi đất lớn ở xã Đức Long, Hòa An).
Nhiều miệng ăn, săn thú, bắt chim không thể đủ no. Đêm đến lũ trẻ đói rầu rĩ, réo khóc, bố mẹ rất khổ tâm.
Thời đó, dưới Nặm Thoong, nước tràn túa ra nhiều nhánh ngập bãi dốc thoai thoải, có một loại cỏ lạ mọc xanh um. Sang mùa thu cỏ ra đòng rồi dần chắc hạt. Hạt cứng có hai đầu nhọn ram ráp (người Tày gọi là coóc), lấy nguyên cả hạt về không thể nào ăn được.
Nhưng vì đói quá, Slao Cải cứ lượm về, khi vùi vào lửa (tiếng Tày là au khẩu phầy) thấy nổ lép bép thành những nụ bông trắng, ăn bùi ngon miệng. Lũ trẻ cứ đưa những gié lúa nương cạnh lửa, nhai suốt ngày. Từ đó loại cây này trở thành thứ ăn chính. Cây dễ mọc, thu hoạch dễ dàng, vì cây thấp và mọc thành vùng.
Tuy nhiên, mọc hoang năng suất lúa rất thấp. Có bụi nhiều cây nhưng không ra bông, hoặc bông lơ thơ vài hạt. Chỉ những chỗ luôn xâm xấp nước, không để cạn khô hoặc nước quá sâu mới trổ bông to và mẩy. Nhận ra điều đó, hai vợ chồng và đàn con bèn đi đắp bờ giữ nước cho chỗ cạn (tiếng Tày là pẳng nặm), nên mới có Nà Pẳng; khơi những chỗ quá trũng để mực nước thấp bớt, lại thấy những chỗ mọc thưa thì hạt to mẩy hơn, họ lại tỉa nhổ bớt những chỗ quá dày nên cây mới mọc tốt - nhổ tỉa bớt (tiếng Tày trước đây gọi là Loòng) nên có tên gọi Nà Loòng. Các địa danh này đều ở xã Đức Long...
Lối canh tác rất thô sơ, nguyên thủy nhưng đã làm thóc lúa tăng nhiều. Họ phải lập kho chứa ở Nà Coóc (ruộng thóc, xã Đức Long, Hòa An). Không thể cứ cho thóc vào lửa để ăn, vì như vậy tốn nhiều thời gian, họ bèn nghĩ cách làm tróc vỏ, chỉ ăn nhân. Họ tìm ra một hủm đá, đưa thóc vào để giã tróc vỏ, đem gạo ngâm rồi đưa đến một bãi phẳng đào hố, dùng lá lót dưới để gạo đã ngâm vào, đậy lá rồi đốt lửa, chờ cơm chín bốc lên ăn.
Hoạt động của con người làm cho các thú hoang, loài thì sán đến gần, loài lại lảng tránh xa, Pú Luông - Slao Cải thuần hóa được rất nhiều gia súc, gia cầm. Khi đủ cơm, đủ thịt ăn, gia đình lại lấy nhiều loại rau, trái về trồng tập trung để tiện thu hái sử dụng.
Cuối cùng các con trưởng thành, cả nhà đến định cư ở Bản Vạn, xã Bế Triều. Bản làng ổn định, đời sống no đủ, đại gia đình của Báo Luông - Slao Cải ngày càng đông đúc, các thế hệ vẫn cùng nhau chung sống hòa thuận tại Bản Vạn. Khi Báo Luông - Slao Cải đã già, trở thành ông bà, được con cháu kính trọng gọi là Pú Luông - Giả Cải. Một hôm Pú Luông - Giả Cải gọi con cháu đến bảo: giờ các con đã trưởng thành, gia đình có cháu chắt đầy đủ, quây quần một chỗ cũng tốt nhưng bí và dễ bị va chạm. Đất ta còn rộng, vậy nên chia các con ra các trấn để vừa giữ đất vừa thuận tiện làm ăn. Thằng Bế ở Bản Vạn, thằng Đoạn nên đi Bản Ngần, thằng Hà đi Đà Lạn, thằng Đàm sang Ảng Giàng
Rồi phân tiếp các con khác: Nông, Dương, Phạm, Đinh, Lương, Lý, Bàn, Trương... lần lượt lập các bản rải rác suốt dọc thung lũng ven sông Bằng từ Hà Quảng đến Hòa An…
Sau này, tên các con trở thành họ của cư dân cư trú tại các xóm, bản. Tất cả con cháu của Pú Luông - Giả Cải đều chăm chỉ lao động sản xuất, góp phần xây dựng nên một dải đất trù phú, trở thành vựa thóc trung tâm của cả tỉnh Cao Bằng.
Khi các cụ qua đời, họ lập miếu thờ, tưởng nhớ tổ tiên cũng là tổ nghề nông của mình.

Bài 5: Nhà nước Nam Cương

Hồng Viễn (T.h)

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh