Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Tiến hành cải tạo các thành phần kinh tế cá thể tư nhân từ năm 1958 - 1960

Thứ hai 27/04/2020 13:00

Đầu năm 1958, Đảng ta chủ trương xây dựng hợp tác xã (HTX) trên phạm vi toàn miền Bắc, coi đó là “khâu then chốt” của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế cá thể, tư nhân trên các lĩnh vực kinh tế, bước đầu tạo nên những chuyển biến tích cực trong sản xuất, đời sống.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Mỏ thiếc Tĩnh Túc (tháng 9/1958). Ảnh:T.L

Thực hiện chủ trương của Trung ương, Đảng bộ, chính quyền tỉnh tập trung chỉ đạo cải tạo xã hội chủ nghĩa trong ngành nông nghiệp, trên cơ sở đẩy mạnh phong trào tổ đổi công, từ đó chuyển hóa thành các HTX. Quán triệt phương thức tiến hành cẩn trọng, vững chắc, thí điểm thành lập HTX sản xuất nông nghiệp, sau đó rút kinh nghiệm và nhân rộng trên phạm vi toàn tỉnh. Xác định rõ các tổ đổi công bao gồm thành phần kinh tế hộ gia đình là cơ sở để gia nhập HTX, vì vậy, phong trào tổ đổi công ở Cao Bằng phát triển nhanh chóng.

Đến cuối năm 1958, toàn tỉnh có 23.370 hộ nông dân (chiếm gần 50% số hộ nông dân của tỉnh) tham gia 3.198 tổ đổi công. Trước tình hình đó, tỉnh mở các lớp học tập về chính sách tổ đổi công và chính sách hợp tác hóa nông nghiệp sâu rộng trong nông dân, nông thôn. Đa số cán bộ phụ trách tổ đổi công tham dự các lớp tập huấn về phương pháp làm việc, quản lý HTX. HTX nông nghiệp xóm Pác Nà, xã Đức Long (Hòa An) được chọn làm thí điểm, lấy tên là HTX Nông nghiệp Minh Khai. Sau thí điểm, tỉnh tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm và tiến hành triển khai đại trà. Đến cuối năm 1959, toàn tỉnh có 27.887 hộ vào HTX.

Thực hiện Chỉ thị số 57-CT/TU ngày 2/3/1960 của Tỉnh ủy về cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp kết hợp với việc hoàn thành cải cách dân chủ, các cấp ủy Đảng, chính quyền tích cực tổ chức thực hiện và đạt những thành quả đáng kể. Đến năm 1960, số hộ vào HTX tăng nhanh với 42.248 hộ, chiếm 87,6% tổng số hộ nông dân toàn tỉnh, đưa tổng số HTX toàn tỉnh lên 1.219 HTX, trong đó vùng cao có 100 HTX; đặc biệt có 86 HTX bậc cao. Các HTX nông nghiệp ra đời quy tụ được lực lượng sản xuất và ruộng đất để triển khai nhanh các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Tập trung vào các khâu thủy lợi, phân bón, giống cây, con nhằm tăng năng suất lao động, đảm bảo thời vụ.

Từ năm 1958 - 1960, sản xuất nông, lâm nghiệp có sự tiến triển rõ rệt, sản lượng lương thực, chăn nuôi, nghề rừng đều có sự tăng trưởng theo từng năm. Về thóc, sản lượng năm 1958 đạt 50.000 tấn; năm 1959 đạt 67.157 tấn; năm 1960 đạt 68.610 tấn,  tăng 42,8% so với năm 1957. Chăn nuôi, năm 1960 so với năm 1957, đàn trâu tăng 15,5%, đàn bò tăng 4%, đàn ngựa tăng 40,6%, đàn lợn tăng 65,8%. Khai thác gỗ năm 1960 tăng 25% so với năm 1957; trồng rừng được 696.000 cây các loại.

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp bước sang giai đoạn mới, Đảng bộ, chính quyền tỉnh quan tâm chỉ đạo tập trung cải tạo các thành phần kinh tế cá thể là thợ thủ công, tư bản tư doanh, từng bước phát triển kinh tế công nghiệp quốc doanh, vận động các hộ tiểu thủ công tham gia các tổ sản xuất, tiến tới gia nhập các HTX sản xuất tiểu thủ công.

Trong sản xuất công nghiệp, số doanh nghiệp công nghiệp toàn tỉnh tăng theo từng năm, năm 1957 có 2 doanh nghiệp, năm 1958 có 4 doanh nghiệp, đến năm 1960 tăng lên 18 doanh nghiệp. Trên cơ sở tiến hành cải tạo các thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, một trong những vấn đề quan trọng đặt ra trong công nghiệp là quản lý, tổ chức sản xuất khoa học, hiệu quả. Trước hết, tỉnh quan tâm tới các xí nghiệp, nhà máy có quy mô lớn, tạo sự chuyến biến tiến bộ, như Xí nghiệp thiếc Tĩnh Túc Cao Bằng.

Năm 1957, mỏ thiếc không tháng nào đạt chỉ tiêu, kế hoạch sản xuất, công tác tư tưởng còn nhiều thiếu sót, nhiều đơn vị chưa khai thác tốt công suất máy móc. Tháng 7/1958, xí nghiệp phát động thi đua “ba tìm: tìm khuyết điểm, tìm nguyên nhân và tìm cách khắc phục sửa chữa”. Tổ chức cho cán bộ, công nhân học tập, liên hệ thực tế, trao đổi, thảo luận với tinh thần cởi mở, dân chủ, minh bạch nhằm tìm ra nguyên nhân và biện pháp sửa chữa. Cán bộ quản lý đến các phân xưởng lắng nghe, tiếp thu các ý kiến phản ánh và cùng quyết tâm khắc phục thiếu sót, khuyết điểm, đoàn kết, thống nhất ý chí xây dựng nhà máy.

Kết quả chuyển biến nhanh chóng, đầu năm 1958, giá thành sản phẩm hạ xuống 2% so với đầu năm. Trong năm, lò luyện kim mới lắp đặt hoàn thành và nấu thử mẻ thiếc đầu tiên thành công. Lò luyện thiếc này cứ 3 ngày cho ra 27 tấn thiếc, trong khi lò cũ 1 tháng mới sản xuất được 30 tấn. Qua 2 năm vận hành, các kỹ sư và công nhân kỹ thuật đã điều khiển thành thạo các loại máy móc hiện đại. Mỏ thiếc Cao Bằng được bầu là đơn vị sản xuất khá nhất của Cục Khai khoáng và vinh dự nhận Cờ thi đua của Bộ Công nghiệp.

Đặc biệt từ ngày 16 - 17/9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Mỏ thiếc Cao Bằng. Người ân cần thăm hỏi, gặp gỡ, động viên, khích lệ đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân và các chuyên gia Liên Xô nỗ lực quyết tâm xây dựng xí nghiệp mỏ thành đơn vị điển hình trong sản xuất công nghiệp. Phấn khởi và vinh dự được Bác về thăm, tập thể Xí nghiệp Mỏ thiếc Cao Bằng hăng hái vươn lên, thi đua lao động sản xuất, cải tiến phương pháp làm việc, nhiều sáng kiến được áp dụng hiệu quả, năng suất lao động không ngừng tăng lên, hoàn thành tốt các chỉ tiêu, kế hoạch đề ra. Sản lượng thiếc mỗi năm một tăng, năm 1957, nhà máy đạt 10.845 tấn thiếc, năm 1958 đạt 222.829 tấn, năm 1959 đạt 366.478 tấn.

Trong ngành công nghiệp, các cơ sở sản xuất luôn được quan tâm củng cố và phát triển. Đầu năm 1959, Nhà máy Điện của tỉnh được công nhận là đơn vị hạch toán độc lập, trực thuộc Ty Công nghiệp Cao Bằng. Sau đó, xưởng cơ khí ra đời, chủ yếu sản xuất nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tháng 9/1959, xưởng gạch quốc doanh ra mẻ gạch đầu tiên; tháng 10/1959, mỏ than Nà Cáp được tổ chức khai thác tạo nguồn nhiên liệu cho nhà máy điện. Tất cả những hoạt động đó làm cho diện mạo công nghiệp trong tỉnh nhanh chóng đổi thay, góp phần khôi phục và phát triển kinh tế của địa phương.

Về thủ công nghiệp, từ năm 1958, các hộ thủ công nghiệp, thợ thủ công của Cao Bằng nhiệt tình hưởng ứng chủ trương hợp tác hóa của Đảng, Nhà nước, tự nguyện gia nhập các HTX. Năm 1959, trong số 1.269 hộ thủ công nghiệp của tỉnh có 862 hộ tham gia HTX, chiếm 68%. Riêng thị xã Cao Bằng có 78% hộ tiểu thủ công nghiệp tham gia HTX. Đến năm 1960, Cao Bằng căn bản hoàn thành hợp tác hóa thủ công nghiệp bậc thấp và trung bình, chiếm tỷ lệ 93,37% tổng số lao động tiểu thủ công nghiệp trong tỉnh.

Kết quả này chứng tỏ sự thành công trong việc đưa các thành phần kinh tế cá thể, tư nhân vào sản xuất tập thể, gia nhập HTX; đánh dấu sự phát triển của tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở đó, khuyến khích sản xuất các mặt hàng nông cụ, dụng cụ, vật liệu xây dựng, phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân.

Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng. Hội nghị Trung ương lần thứ 14, tháng 12/1958 và lần thứ 16, tháng 4/1959 đã chỉ rõ: Sớm cải tạo và tiến tới xóa bỏ công thương nghiệp tư bản tư doanh và thị trường tự do. Đảng bộ và chính quyền Cao Bằng đã vận dụng đường lối của Đảng vào thực tế của tỉnh. Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử, số tư sản dân tộc và thương nhân tầm cỡ có số lượng ít, vốn tập trung thấp, chủ yếu chỉ kinh doanh một số mặt hàng, phạm vi quy mô ảnh hưởng trong xã hội không lớn. Vì vậy, chính quyền tạo điều kiện cho họ học tập chính sách của Nhà nước và tự nguyện đăng ký tham gia cải tạo.

Trong quá trình đó, mậu dịch quốc doanh được coi là lực lượng điều tiết hàng hóa, bình ổn giá cả trên thị trường. Từ tháng 4/1958, Ty Thương nghiệp Cao Bằng triển khai tổ chức HTX mua bán từ tỉnh đến huyện. Cuối năm 1958, các tổ cung tiêu, đại lý dầu hỏa, muối, vải, thực phẩm lần lượt được thành lập để phục vụ nhân dân. Có 2.083 cơ sở tiểu thương được tổ chức thành HTX thương nghiệp, chiếm 57% tổng số hộ thương nghiệp; 294 người buôn bán nhỏ lẻ được sắp xếp việc làm trong các ngành nghề phù hợp. Đến năm 1960, tỉnh xây dựng 32 cửa hàng mậu dịch quốc doanh, mạng lưới thương nghiệp quốc doanh và HTX mua bán phát triển trên phạm vi toàn tỉnh, góp phần lưu thông hàng hóa, ổn định đời sống nhân dân.

Lĩnh vực giao thông - vận tải, năm 1957 tỉnh ta mới có 11 xe ô tô tải tư nhân.  Năm 1958, tỉnh thành lập quốc doanh vận tải với 28 xe ô tô tải, 7 xe ca chở khách. Khối lượng hàng chở trong năm đạt 472%, chở khách đạt 579,41% kế hoạch. Từ năm 1958 - 1960, công tác giao thông - vận tải luôn được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, của tỉnh. Ngành giao thông khôi phục, tu bổ 729 km đường cũ, làm mới 113 km trong tỉnh, tạo điều kiện cho nhân dân đi lại và giao lưu hàng hóa.

Những năm 1958 - 1960, thực hiện cải tạo các thành phần kinh tế, thúc đẩy phong trào hợp tác hóa, đẩy mạnh xây dựng các đơn vị kinh tế quốc doanh đối với các ngành kinh tế đã tập trung được nguồn lực và lực lượng sản xuất để khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội hiệu quả trên phạm vi toàn tỉnh.
             
Kỳ sau: Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất giai đoạn 1961 - 1965

Lê Chí Thanh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh