Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Tích cực xây dựng hậu phương, sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ lần thứ nhất (1966 - 1968)

Thứ hai 18/05/2020 06:00

Những năm 1965 - 1966, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Cao Bằng chuyển từ trạng thái hoạt động đặt trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh, tích cực xây dựng hậu phương vững về kinh tế, mạnh về quốc phòng - an ninh, sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.

Năm 1967, huyện Quảng Hòa được Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng nhì về thành tích xuất sắc phát triển giao thông nông thôn. Ảnh: Thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa ngày nay.

Về nông nghiệp, toàn tỉnh có 48.818 ha đất nông nghiệp, trong đó đất canh tác hằng năm chiếm 98,9%. Năm 1966, Cao Bằng chịu nhiều thiên tai, bệnh vàng lụi lúa hoành hành, gây thất thu mùa vụ, đời sống nhân dân trở nên khó khăn hơn. Để khắc phục khó khăn, tỉnh đẩy nhanh phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, tiến hành 3 đợt vận động nông dân vào hợp tác xã, hướng dẫn nhân dân trồng thêm ngô, đỗ tương, thuốc lá và các loại hoa màu bù cho diện tích lúa vàng lụi.

Đến năm 1968, toàn tỉnh vận động được 55% hộ và nhân khẩu thuộc diện định canh, định cư vào hợp tác xã nông nghiệp. Việc trồng rừng cũng đạt hiệu quả, năm 1968, diện tích trồng rừng đạt 1.114 ha, tu bổ 1.048 ha, nạn cháy rừng giảm đáng kể.

Năm 1966 - 1967, hạn hán kéo dài, công trình thủy điện Suối Củn hoàn thành đã cung cấp điện cho các trạm bơm nước hoạt động. Phong trào toàn dân làm thủy lợi được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Năm 1967, Cao Bằng khôi phục 34 công trình thủy lợi vừa và nhỏ, huy động hàng vạn ngày công lao động đào đắp 530.900 m3 đất đá.

Năm 1968 xảy ra nhiều mưa lũ lớn, tỉnh huy động nhân công tu sửa, lắp thêm 5 trạm bơm dầu, 5 trạm bơm điện, xây dựng 8 hồ chứa nước; thành lập 144 tổ thủy nông với 10.016 tổ viên, 48 đội thủy lợi của các hợp tác xã nông nghiệp. Nhờ những cố gắng đó, sản xuất nông nghiệp giai đoạn 1966 - 1968 tiếp tục duy trì và phát triển. Trong hoàn cảnh vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu, thiên tai xảy ra nhưng ngành nông nghiệp vẫn đứng vững và phát triển.

Đối với lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, Tỉnh ủy chỉ đạo trang bị và sử dụng rộng rãi sản phẩm của cơ khí nhỏ phục vụ nông nghiệp làm cơ sở tiến lên cơ khí hóa nông nghiệp trong tương lai. Thực hiện Nghị quyết số 56 ngày 26/9/1967 của Tỉnh ủy về phát triển công nghiệp địa phương, vốn đầu tư giai đoạn 1966 - 1968 tăng lên gấp nhiều lần so với giai đoạn 1961 - 1965. Đến năm 1968, toàn tỉnh có 34 điểm cơ khí nhỏ, 13 xí nghiệp công nghiệp địa phương, 10 xưởng cơ khí nông cụ. Các cơ sở sản xuất đã tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có để chế biến sản phẩm phục vụ địa phương.  

Công tác lưu thông phân phối hàng hóa và giao thông vận tải được tỉnh coi trọng. Trong hoàn cảnh có chiến tranh, tỉnh yêu cầu ngành thương nghiệp và giao thông - vận tải bằng mọi cách vận chuyển hàng hóa đáp ứng nhu cầu tối thiểu của nhân dân; ngành thương nghiệp đã chuyển các công ty thành các trạm kinh doanh cấp II. Đến năm 1967, ngành lại chuyển các trạm cấp II trở về công ty. Lúc này, tỉnh chỉ còn 6 công ty, gồm: Bách hóa, Bông vải sợi, Nông sản, Thực phẩm, Ăn uống, Vật liệu kiến thiết. Những năm 1966 - 1968, ngành thương nghiệp hoàn thành nhiệm vụ phục vụ đời sống nhân dân và thu mua lương thực, thực phẩm.

Ngành giao thông - vận tải tích cực duy tu, bảo dưỡng các cung đường bị sạt lở, hỏng nặng do thiên tai gây ra và làm thêm tuyến đường Trà Lĩnh - Tổng Cọt - Nặm Nhũng, tạo điều kiện giao lưu hàng hóa và phục vụ nhân dân đi lại trong tỉnh. Hoàn thành sửa chữa cầu Sông Hiến sau khi bị địch bắn phá. Đồng thời mở các tuyến đường nông thôn, phong trào làm đường nông thôn được các địa phương hưởng ứng.

Năm 1965 - 1966, 2 huyện Quảng Uyên, Phục Hòa cơ bản hoàn thành các trục đường liên thôn, liên xã, là lá cờ đầu của tỉnh trong phong trào làm đường nông thôn. Toàn tỉnh đã làm được 1.736 km, duy tu 111 km đường trục chính, đường xóm. Năm 1967, xã Quốc Dân (Quảng Hòa) được Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng ba; huyện Quảng Hòa được Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng nhì về thành tích xuất sắc phát triển giao thông nông thôn.

Ngành giáo dục có nhiều cố gắng trong sự nghiệp “trồng người”. Từ đầu năm học 1965 - 1966, xây dựng nhà trường phù hợp với thời chiến “chưa có hầm hào tốt, chưa khai giảng”, đảm bảo an toàn cho thầy và trò là nhiệm vụ đầu tiên. Năm học 1966 - 1967, toàn tỉnh có 79 trường cấp II, 7 trường cấp III; năm học 1967 - 1968 có 10 trường cấp III. Năm 1967, cô giáo Tô Thị Rỉnh, dân tộc Tày, xã Đề Thám, Hòa An (nay là Thành phố) được bầu là Chiến sĩ thi đua toàn quốc.

Phong trào bổ túc văn hóa được mở rộng đến vùng cao, vùng xa, các xí nghiệp, công trường, lâm trường, những nơi tập trung đông cán bộ, công nhân. Năm học 1966 - 1967, tỉnh cử nhiều học sinh sau khi tốt nghiệp lớp 10 phổ thông cấp III đi học Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc hệ 4 năm, đào tạo thành giáo viên cấp III. Các trường sư phạm cấp I, cấp II đào tạo, bồi dưỡng giáo viên trong tỉnh, đội ngũ giáo viên không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, đáp ứng yêu cầu giáo dục, đào tạo.

Trong hoàn cảnh thời chiến, Ty Y tế và các cơ quan trực thuộc sơ tán lên vùng Hà Quảng, Hòa An để bảo toàn đội ngũ thầy thuốc và đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Năm 1966, Viện Điều dưỡng cán bộ được thành lập, sau này là Phân viện A thuộc Bệnh viện Đa khoa tỉnh. Năm 1967, Trạm Phòng, chống lao và Bệnh viện Đông y tỉnh được xây dựng; năm 1968 toàn tỉnh có 19 cơ sở y tế, 158 bệnh xá, trạm xá và 8 cơ sở chuyên khoa; hệ thống y tế phát triển đến các hợp tác xã nông nghiệp.

Công tác văn hóa được coi trọng và phát triển mạnh, toàn tỉnh có 154 đội văn nghệ quần chúng hoạt động sôi nổi ở các địa phương, các nông, lâm trường, công trường, xí nghiệp. Ty Thông tin của tỉnh được thành lập, các hoạt động báo chí, điện ảnh, truyền thanh luôn sôi động, phong phú đến tận cơ sở.

Thực hiện Nghị quyết số 163 của Tỉnh ủy, các lực lượng dân quân, tự vệ, công binh, dân quân được củng cố, tăng cường. Các phong trào “ba sẵn sàng” trong thanh niên, “ba đảm đang” của phụ nữ phát triển rầm rộ, sôi nổi trong lao động sản xuất, sẵn sàng chiến đấu. Trong hai đợt tuyển quân, Cao Bằng đã động viên 6.409 thanh niên lên đường nhập ngũ; 1.700 người tình nguyện tham gia các đội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước.

Những năm 1966 - 1968, trong hoàn cảnh chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Cao Bằng ra sức củng cố, xây dựng hậu phương vững mạnh, vừa sản xuất vừa chiến đấu, góp phần cùng cả nước chi viện cho cách mạng miền Nam giành thắng lợi.
            
Kỳ sau: Khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ (1969 - 1972)

Lê Chí Thanh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh