Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965)

Thứ hai 11/05/2020 07:00

Trải qua thời kỳ khôi phục, xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa thời kỳ 1955 - 1960, Cao Bằng đã khắc phục khó khăn, nỗ lực vươn lên và đạt được một số thành tựu quan trọng. Trên cơ sở đó, toàn tỉnh bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) và thực hiện hiệu quả những mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu.

Bệnh viện tỉnh (nay là Bệnh viện Đa khoa tỉnh) được xây dựng từ năm 1962 tại Nà Phía, thị xã Cao Bằng.

Về nông, lâm nghiệp, tiếp tục thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị về phong trào hợp tác hóa và xây dựng, mở rộng hợp tác hóa nông nghiệp, Đảng bộ tỉnh tiến hành cuộc vận động cải cách dân chủ vùng cao, đẩy mạnh phát triển hợp tác xã (HTX), gắn với tăng năng suất lao động. Trong năm đầu của kế hoạch 5 năm, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp phát triển khá mạnh, nhưng hai năm sau (1962 - 1963), phong trào gặp khó khăn do hạn hán, mất mùa, đời sống nhân dân bấp bênh; hơn nữa, khâu quản lý , tổ chức HTX còn lúng túng, nóng vội đưa HTX chưa đủ điều kiện lên quy mô lớn.

Năm 1961, số hộ nông dân tham gia HTX chiếm 72,2%; đến đầu năm 1963 chỉ còn 53%. Trước tình hình đó, Đảng bộ tỉnh tập trung chỉ đạo củng cố, giữ vững phong trào hợp tác hóa và đẩy mạnh trồng trọt, phát triển chăn nuôi trên phạm vi toàn tỉnh. Tỉnh ủy điều động 200 cán bộ đến cơ sở tuyên truyền, vận động nhân dân ổn định tư tưởng, học tập Điều lệ, chính sách về hợp tác hóa. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho 650 cán bộ quản trị HTX, đội trưởng đội sản xuất và các đối tượng kế toán, cán bộ kỹ thuật…

Gắn việc củng cố HTX với việc phát triển đảng viên mới. Coi trọng phát triển HTX vùng cao, các dân tộc thiểu số. Thực hiện cuộc vận động cải tiến quản lý HTX, tỉnh tổ chức thí điểm hai đợt tại HTX Vò Đạo, xã Bế Triều (Hòa An) để rút kinh nghiệm và nhân diện; đồng thời cứu đói cho 3.000 hộ nông dân.

Từ đó, phong trào xây dựng hợp tác hóa của tỉnh có sự chuyển biến tích cực. Cuối năm 1964, đã có 1.421 HTX, chiếm 70% số hộ nông dân toàn tỉnh; năm 1965 có 1.511 HTX, tăng hơn so với năm trước. Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Cao Bằng khôi phục lại HTX nông nghiệp, đẩy mạnh sản xuất, tổng sản lượng lương thực quy ra thóc đạt 136.000 tấn, tăng 46% so với năm 1963.

Đối với chăn nuôi, số lượng gia súc, gia cầm không ngừng tăng lên theo từng năm, nhất là chăn nuôi trâu, bò. Năm 1961 đàn trâu có 61.642 con, năm 1965 tăng lên 68.275 con; năm 1965 đàn bò có 63.101 con, ngựa 3.507 con, lợn 142.015 con, gia cầm 793.000 con. Sự phát triển chăn nuôi góp phần đáng kể vào giá trị sản lượng ngành nông nghiệp, tạo nên nguồn cung cấp thực phẩm phục vụ đời sống nhân dân.

Trong lâm nghiệp, ngành tập trung trồng rừng, tu bổ, bảo vệ rừng và khai thác rừng hợp lý. Năm 1965, trồng rừng quốc doanh đạt 50% kế hoạch, nhân dân trồng được 80 vạn cây; diện tích trồng rừng tăng lên và tình trạng đốt phá rừng giảm hẳn. Về thủy lợi, với phương châm “nhân dân làm là chính, giữ nước là chính và thủy lợi nhỏ là chính”, Nhà nước chủ trương đầu tư vốn vào thủy lợi chiếm 60 - 80% tổng vốn đầu tư cho toàn ngành nông nghiệp.

Những năm 1964 - 1965, phong trào làm thủy lợi diễn ra sôi nổi, nhân dân đóng góp 413.396 ngày công tu sửa 4.205 công trình, xây mới 46 trạm bơm tự động, 40 máy bơm dầu, làm tăng diện tích tưới tiêu cho 766 ha vụ đông - xuân và 1.242 ha vụ mùa.

Lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, Đảng bộ tỉnh quán triệt chủ trương của Trung ương, tập trung phát triển các ngành: chế biến lâm sản, cơ khí sửa chữa, dệt thổ cẩm, đan lát, may, thêu, khai khoáng, vật liệu xây dựng, điện lực, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân. Động viên, khuyến khích người thợ vào tổ sản xuất, HTX thủ công nghiệp và hình thành các xí nghiệp sản xuất mới, phát huy nguồn lực các thành phần kinh tế.

Công nghiệp quốc doanh được củng cố và mở rộng, đầu tư trang thiết bị, tập trung vào các xưởng cơ khí, chế biến gỗ, ép dầu, mía đường và xây dựng thêm một số xí nghiệp chế biến hoa màu, khai thác mangan, thiếc. Thực hiện cải tiến công tác quản lý, mở rộng hạch toán kinh tế, trả lương theo sản phẩm, phấn đấu làm nghĩa vụ cho ngân sách tỉnh. Nhờ đó, từ năm 1963, giá trị tổng sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 113% kế hoạch, tăng 6,6% so với năm 1962. Năm 1965, giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng gấp 2 lần so với năm 1961.

Công nghiệp nhóm A chiếm tỷ trọng 33%, nhóm B chiếm 67%; hầu hết các ngành sản xuất đều tăng theo từng năm. Trong thành phần kinh tế, năm 1965, công nghiệp quốc doanh chiếm 41% giá trị tổng sản lượng công nghiệp; công nghiệp tư nhân và tiểu thủ công nghiệp cá thể chiếm 58,9% giá trị tổng sản lượng công nghiệp.

Các ngành thương nghiệp, ngân hàng, tài chính có nhiều chuyển biến mới tích cực trong các hoạt động công tác. Ngành thương nghiệp tiếp tục tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế tư doanh, đẩy mạnh xây dựng các HTX mua bán và tín dụng. Năm 1962 có 120 HTX với 30.732 xã viên, số vốn huy động 194.693 đồng; năm 1964 tăng lên 125 HTX, 32.537 xã viên, số vốn huy động 237.515 đồng.

Nhờ đó, các hoạt động thương mại đạt hiệu quả hơn trước. Năm 1964, công tác thu mua lương thực cả năm vượt 1,6% kế hoạch; năm 1965 lương thực mua vào, bán ra đều đạt và vượt kế hoạch đề ra, tăng 26,5% so với năm 1964. Đối với ngân hàng, tài chính, công tác bình ổn giá cả năm 1965 so với năm 1964 tăng 7%; tổng thu ngân sách địa phương năm 1965 đạt 8.550.000 đồng.

Về giao thông vận tải, tỉnh quan tâm đầu tư cải tạo, mở rộng và xây dựng mới các tuyến đường giao thông vận tải. Phong trào giao thông nông thôn phát triển mạnh, với tinh thần tự lực tự cường, nhân dân đóng góp 78.471 ngày công lao động sửa chữa cầu đường, khôi phục, làm mới đường liên thôn, phát triển 2.500 xe thô sơ các loại. Vì vậy, khối lượng vận tải hàng hóa không ngừng tăng lên, năm 1962 đạt 64.929 tấn, đến năm 1964 đạt 79.197 tấn.

Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, ngành giáo dục cùng toàn dân “tiến quân diệt dốt vùng cao”; năm 1961 - 1962, huyện Hòa An tổ chức “Quỹ diệt dốt”, đào tạo giáo viên, tăng cường lên vùng cao. Kết quả, Cao Bằng là một trong hai tỉnh miền núi đầu tiên xóa xong nạn mù chữ. Trong giáo dục phổ thông, số trường, lớp, học sinh, giáo viên nhìn chung đều tăng. Năm học 1961 - 1962, toàn tỉnh có 233 trường từ cấp I đến cấp III với 962 lớp, 891 giáo viên, 33.337 học sinh. Năm học 1964 - 1965, tỉnh có 286 trường học, 1.047 lớp, 29.785 học sinh các cấp.

Cùng với hệ phổ thông, công tác bổ túc văn hóa luôn được coi trọng thực hiện. Các trường, lớp bổ túc văn hóa tập trung và ngoài giờ được mở ra dành cho các đối tượng cán bộ, học sinh đến học. Năm 1964, các lớp bổ túc văn hóa ngoài giờ có số học sinh mãn khóa 736 người, số học sinh các lớp bổ túc văn hóa tập trung 380 học viên. Năm 1965 có 20.974 học viên bổ túc văn hóa ngoài giờ, 262 học viên các lớp bổ túc văn hóa tập trung. Với những thành tích đó, ngành giáo dục tỉnh vinh dự được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì trong thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965).

Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân chú trọng thực hiện theo lời Bác Hồ căn dặn khi Người về thăm Cao Bằng ngày 21/2/1962, ngành y tế tỉnh tích cực xây dựng thêm các cơ sở chữa bệnh, tăng cường trang bị máy móc, y cụ điều trị cho bệnh nhân. Năm 1962, Bệnh viện tỉnh được khởi công xây dựng tại Nà Phía, thị xã Cao Bằng. Đến năm 1964, tỉnh có 13 cơ sở khám, chữa bệnh; 81 trạm y tế xã; 5 đội y tế lưu động.

Đầu năm 1965, thành lập Trạm vệ sinh dịch tễ trực thuộc Ty Y tế tỉnh. Đội ngũ thầy thuốc được bổ sung tăng cường, đến năm 1965, toàn tỉnh có 13 bác sĩ, 88 y sĩ, 75 nhân viên trung cấp, 516 nhân viên y tế sơ cấp và ngoài biên chế. Công tác tiêm chủng phòng bệnh có hiệu quả, bệnh sốt rét bị đẩy lùi, phong trào vệ sinh, phòng bệnh được nhân dân hưởng ứng thực hiện.

Về văn hóa, ngành thành lập 1 đội văn nghệ, 1 rạp chiếu phim, 7 đội chiếu bóng lưu động phục vụ nhân dân. Năm 1965, tỉnh phát hành 885.150 tờ báo đến nông thôn, 5% số HTX nông nghiệp có báo để đọc. Ngày 1/11/1962, hai ngành bưu điện và truyền thanh của tỉnh được sáp nhập thành Bưu điện - Truyền thanh Cao Bằng. Sau khi Ty Thông tin được thành lập, Đài Phát thanh trở về trực thuộc Ty Thông tin. Số trạm loa truyền thanh tăng lên nhanh chóng, năm 1961 tỉnh mới có 2 trạm truyền thanh, đến năm 1965 có 6 trạm truyền thanh, đạt bình quân 72 loa/1 vạn dân.

Với sự phấn đấu nỗ lực không ngừng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh, các mục tiêu kinh tế - xã hội của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) đã thực hiện thành công. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
             
Kỳ sau: Tích cực xây dựng hậu phương, sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lần thứ nhất (1966 - 1968)

Lê Chí Thanh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh