Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Phạm Cần Chính - Tổng binh trung nghĩa

Chủ nhật 03/11/2019 05:00

Dưới triều Tây Sơn (1778 - 1802), tháng 2 năm Kỷ Dậu (1789), Quang Trung cử Đô đốc Luyện Vũ hầu làm Trấn thủ Cao Bằng, được hai năm sau, vào năm Tân Dậu (1801), vua Cảnh Thịnh lại cử Hội Vũ hầu làm Trấn thủ Cao Bằng.

Cầu Cốc Khoác thuộc thôn Cốc Khoác, thị trấn Hùng Quốc (Trà Lĩnh).

Đối với cấp châu, huyện (đặc biệt là cấp châu) ở Cao Bằng, nhà Tây Sơn giao cho các thổ tù địa phương nắm giữ. Thời kỳ nhà Tây Sơn, Cao Bằng là một ngoại trấn. Tháng 2 năm Mậu Ngọ (1788), sau khi ra Bắc diệt Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Huệ đã cử Huân Liệt hầu giữ chức Hiệp trấn Cao Bằng.
Năm 1789, sau khi tiêu diệt 29 vạn quân Mãn Thanh xâm lược, Quang Trung quản lý toàn bộ đất Bắc Hà. Để trấn trị miền đất Cao Bằng, Quang Trung đã cử Phạm Cần Chính làm Tổng binh Cao Bằng. Đồng thời vua Quang Trung - Nguyễn Huệ tiến hành chấn chỉnh lại hệ thống hành chính, thay đổi một số tên gọi. Để tránh tên húy của vua Quang Trung là Nguyễn Quang Bình, các vùng đất có tên là Bình đều phải đổi tên, từ đó Trấn Cao Bình đổi thành Cao Bằng. Vào đầu triều Nguyễn đặt lại tên cũ là Cao Bình, nhưng do thói quen kiêng kỵ nên sử sách và người dân cho đến nay vẫn gọi là Cao Bằng.
 Tổng binh Phạm Cần Chính quê ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Theo các nhà nghiên cứu, đây không phải tên thật của ông mà là tên do vua Quang Trung ban cho. Thuở nhỏ, Phạm Cần Chính là một cậu bé nghèo nhưng hiếu học. Thiếu dầu đèn, cậu vào rừng đốn củi, chẻ nhỏ làm đuốc soi. Thiên tư thông minh, trí nhớ tốt, Phạm Cần Chính học đâu biết đấy. Lớn lên, ông theo học binh thư. Ngoài trí tuệ hơn người, ông còn có sức mạnh bẩm sinh. Chưa đến tuổi 20 mà ông đã kéo được cung nặng 300 kg. Nhờ một hiệp khách khoác áo thầy tu dày công truyền dạy võ nghệ, Phạm Cần Chính trở thành trang hiệp sĩ giỏi đao kiếm, cung tên, sử dụng thành thạo thiết sóc (giáo sắt), có thể ngồi trên mình ngựa vung giáo đánh hạ hàng trăm địch thủ. Người đương thời suy tôn ông là Phạm Thiết Sóc.
Nhà Tây Sơn dấy nghĩa, Phạm Cần Chính theo Nguyễn Huệ ra Bắc, lần lượt đánh bại quân Trịnh, diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, đại phá quân Thanh, dẹp tàn quân Lê Chiêu Thống, lập nhiều chiến công, ổn định đất Bắc Hà. Quang Trung đặc ban cho ông họ Nguyễn và cử làm Tổng binh Cao Bằng, trấn giữ biên giới. Ông biết việc cai quản miền biên giới vùng Cao Bằng vốn dĩ đã có nhiều khó khăn, phức tạp từ xưa. Nếu không có sự hợp lực của những người địa phương sở tại thì càng khó khăn hơn. Chính vì vậy, Phạm Cần Chính đã dành thời gian đến với dân chúng và các tù trưởng ở địa phương, nên ông đã thiết lập được mối liên hệ chặt chẽ với các vị tù trưởng, rất am hiểu địa bàn và tình hình dân chúng ở Cao Bằng.
Dưới triều Tây Sơn, nhất là thời kỳ Phạm Cần Chính được bổ làm Tổng binh ở Cao Bằng, việc giao lưu buôn bán dọc biên giới Việt - Trung được  khuyến khích phát triển, vua Quang Trung chủ trương mở rộng quan hệ ngoại thương, buôn bán với Trung Quốc. Trong một bức thư gửi Tổng đốc Lưỡng Quảng, vua Quang Trung xác định rõ mục đích của việc thông thương là “mở cửa ải, thông chợ búa, khiến cho hàng hóa không ngưng đọng để làm lợi cho dân chúng”. Vua Quang Trung đã yêu cầu nhà Thanh mở cửa ải ở vùng biên giới để nhân dân hai nước qua lại buôn bán. Trên vùng giáp giới với Trung Quốc ở Cao Bằng, nhà Thanh đã cho mở các cửa ải Bình Nhi, Thủy Khẩu, cho phép thương nhân sang buôn bán ở phố Mục Mã (Cao Bằng). Nhờ những chính sách tích cực của vua Quang Trung, quan hệ thông thương giữa hai nước ở vùng biên giới được khôi phục và phát triển. Trên địa bàn Cao Bằng, đồng tiền Quang Trung thông bảo bắt đầu được lưu hành thay thế dần những đồng tiền thời Lê.
Chủ trương mở rộng cửa ải biên giới cho nhân dân hai nước qua lại buôn bán dưới thời Tây Sơn được thực hiện khá tốt. Người dân địa phương đã quyên góp tiền để làm đường, xây cầu tạo điều kiện cho việc đi lại dễ dàng, thuận lợi. Sự hiện tồn của chiếc cầu ở thôn Cốc Khoác, thị trấn Hùng Quốc, huyện Trà Lĩnh, cách đường biên giới Việt - Trung 5 km về phía Tây Nam đã minh chứng cho điều đó. Tại đây còn một tấm bia Dao Quang Củng Kiều, được lập sau khi hoàn thành việc trùng tu, sửa chữa, nội dung văn bia  cho biết cầu được xây dựng năm 1788. Nội dung văn bia còn cho biết sơ lược một vài nét về đời sống kinh tế - văn hóa, xã hội ở Cao Bằng thời Tây Sơn.
Tuy nhiên, một số chính sách và biện pháp nhằm phát triển kinh tế của triều đại Tây Sơn trên đất Cao Bằng chỉ được thực hiện trong một thời gian ngắn, nên chưa tạo được sự chuyển biến đáng kể. Nền kinh tế tự nhiên vẫn chiếm vai trò chủ đạo ở Cao Bằng thời kỳ này.
 Khi triều Tây Sơn sụp đổ (1802), Phạm Cần Chính không tuẫn tiết như bao tướng lĩnh tận trung khác mà ông bí mật lên Cao Bằng, vì sẵn có mối quan hệ mật thiết, ông đã liên kết với các tù trưởng miền núi, tổ chức lực lượng chống lại nhà Nguyễn. Tổng trấn Bắc Thành tiễu trừ không xong, dụ hàng không được đành để mặc cho toán nghĩa binh trung thành với nhà Tây Sơn khi ẩn khi hiện giữa chốn núi rừng sâu thẳm.
Tương truyền, khi Phạm Cần Chính qua đời, các chiến hữu mai táng ông trên một ngọn đồi bên cạnh dòng suối, hướng mặt về phía Nam. Họ khoác lên thi hài ông bộ võ phục triều Tây Sơn, phủ lên quan tài ông lá cờ đào của nghĩa quân. Sử liệu cho biết: Năm 1804, trong một dịp ra Thăng Long, vua Gia Long đã hỏi Tổng trấn Bắc Thành về tình hình Cao Bằng. Nguyễn Văn Thành tâu: “Đã dụ hàng Phạm Cần Chính và đồng bọn nhiều lần. Nhưng quân phiến loạn đang đêm cứ đột nhập quấy nhiễu phủ thành, phải điều quân lên trấn giữ. Bị đánh dạt vào rừng sâu nhưng khi quân ta rút về thành, chúng lại tràn xuống”.
Khi Phạm Cần Chính mất, mọi người đều khen ông thật sự là một Tổng binh  quân tử trung nghĩa. 

Đinh Ngọc Viện

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh