Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Những đóng góp của đồng chí Hoàng Đình Giong trên chiến trường Khu 9

Thứ bảy 01/06/2019 05:00

Khu 9 - miền Tây Nam Bộ, là một chiến trường có vị trí chiến lược quan trọng. Sự nghiệp cách mạng và kháng chiến của Tây Nam Bộ là một trang sử đẹp trong thiên anh hùng ca cách mạng và kháng chiến của dân tộc Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Được (bên phải) - vợ đồng chí Hoàng Đình Giong về thăm quê chồng nhân dịp Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Hoàng Đình Giong (1/6/1904 - 1/6/2014). Ảnh: Kim Xoa

Nhân dân miền Tây Nam Bộ vốn có truyền thống yêu nước ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, ngay từ buổi đầu đặt chân xâm lược mảnh đất này, thực dân Pháp đã gặp phải sự chống trả quyết liệt của những người con yêu nước.
Theo chỉ thị của Xứ ủy và Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, các tỉnh có lực lượng Cộng hòa vệ binh tương đối mạnh như Cần Thơ, Rạch Giá, Bạc Liêu, Châu Đốc, Vĩnh Long… đưa những đơn vị trang bị tốt nhất lên chiến đấu chi viện cho mặt trận phía Nam Sài Gòn. Trong lúc đó, ở miền Bắc và miền Trung đất nước, theo hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Trung ương, nhiều đơn vị Nam tiến vào miền Nam chiến đấu.
Ngày 10/12/1945, Xứ ủy Nam Bộ triệu tập hội nghị mở rộng tại Bình Hòa Nam (thuộc huyện Đức Huệ, tỉnh Long An ngày nay), quyết định giải thể Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, thành lập Ủy ban Kháng chiến miền Nam. Hội nghị bàn biện pháp thống nhất các lực lượng vũ trang, thực hiện chỉ thị của Trung ương và Hồ Chủ tịch trước đây đã chia Nam Bộ thành 3 chiến khu (Khu 7, Khu 8, Khu 9) và các đồng chí chỉ huy các chiến khu do Trung ương chỉ định.
Cuối tháng 12/1945, Liên Tỉnh ủy miền Tây triệu tập cuộc hội nghị tại Ô Môn (Cần Thơ). Hội nghị kiểm điểm tình hình quân sự và lực lượng vũ trang của miền Tây, thông báo quyết định thành lập chiến khu và danh sách các đồng chí lãnh đạo chỉ huy các chiến khu. Đồng chí Hoàng Đình Giong - cán bộ quân sự từ Trung ương đưa vào, Chỉ huy trưởng Bộ đội Nam tiến - giữ chức Khu Bộ trưởng Khu 9.
Tháng 10/1945, đồng chí Hoàng Đình Giong được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ làm Chỉ huy trưởng Bộ đội Nam tiến vào miền Nam chống thực dân Pháp xâm lược. Đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng đổi tên thành Võ Văn Đức để bảo đảm bí mật. Trong thời gian giữ chức Khu Bộ trưởng Khu 9, đồng chí mang tên Vũ Đức.
Cuối tháng 12/1945, Khu Bộ trưởng Vũ Đức cùng một số đơn vị Nam tiến và Chính trị Bộ Chủ nhiệm Phan Trọng Tuệ xuống Rạch Giá, lập Bộ Chỉ huy Quân sự Khu. Lúc này, Khu 9 gồm 7 tỉnh: Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Bạc Liêu, Hà Tiên, Cần Thơ, Sóc Trăng.
Sáng 17/3/1946, Pháp cho nhiều tàu chiến tiến công Ngã Tư Đầu Sấu, rồi tiến xuống mặt trận Ngan Dừa - Phước Long, là căn cứ của Chiến khu 9. Một đơn vị vũ trang của Quân khu phối hợp với một phân đội của tỉnh Vĩnh Long, Sa Đéc, Bạc Liêu, do Khu Bộ trưởng Vũ Đức chỉ huy đã anh dũng chống trả địch. Nhưng trong điều kiện thiếu vũ khí, đạn dược và trước sự tiến công mạnh mẽ của địch, đồng chí Vũ Đức ra lệnh rút bỏ mặt trận Ngan Dừa - Phước Long về tăng cường cho mặt trận Cà Mau - Tân Hưng, mặt trận cuối cùng còn lại của Khu 9.
Sau khi Pháp tái chiếm, một số khu vực ở Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu xảy ra xung đột đẫm máu giữa người Khơ me và người Kinh, do người Khơ me bị địch xúi giục. Khu Bộ trưởng Vũ Đức đích thân đi kiểm tra thực tế tại một số địa phương ở Sóc Trăng, Trà Vinh và đến Phước Long - nơi được xem là điểm nóng - ra lệnh thả ngay số đồng bào Khơ me bị giam giữ; giáo dục sâu rộng trong cán bộ, trong đồng bào người Kinh và người Khơ me về âm mưu “chia để trị” của Pháp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân chống ngoại xâm. Những sự việc trên đã gây ấn tượng mạnh và in sâu trong lòng đồng bào Khơ me. Đồng chí Vũ Đức được đồng bào, đồng chí kính trọng và gọi thân mật là “Cụ Vũ”. Ngày nay, đồng bào ở nhiều nơi, đặc biệt là đồng bào vùng Phước Long vẫn còn nhắc đến công ơn cứu mạng của cụ Vũ Đức.
Cuối tháng 4/1946, Xứ ủy lâm thời Nam Bộ triệu tập hội nghị ở Rau Dừa (Cà Mau). Hội nghị bầu Khu ủy Hậu Giang mới gồm 5 đồng chí: Trần Văn Hiển (quyền Bí thư), Vũ Đức, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Vực và Trần Văn Đại. Khu ủy đóng ở vùng căn cứ Cái Tàu - Khánh An - Khánh Lâm (U Minh Hạ) và chủ trương tiếp tục phát triển chiến tranh du kích, đẩy mạnh công tác binh  địch vận, trừ gian, phá tề.
Thực hiện chủ trương của Khu ủy, từ tháng 5/1946 trở đi, các lực lượng vũ trang (Vệ quốc đoàn, Quốc vệ đội, Quốc gia tự vệ cuộc, dân quân du kích, các đội trừ gian…) thực hiện nhiều trận đánh địch táo bạo, tạo lòng tin cho nhân dân ở vùng tự do cũng như vùng tạm chiếm. Những hoạt động chiến đấu, trừ gian, diệt tề ở miền Tây Nam Bộ làm cho địch hoang mang và bọn chỉ điểm ác ôn co đầu tại chỗ.
Cuối tháng 11/1946, Trung ương điều đồng chí Vũ Đức ra Bắc họp. Khi đồng chí đến Khu 6 thì nhận được quyết định của Trung ương phân công ở lại làm Khu Bộ trưởng Khu 6, trực tiếp chỉ huy các đơn vị chủ lực ở Ninh Thuận và Bình Thuận. Đồng chí Huỳnh Phan Hộ thay đồng chí Vũ Đức làm Khu Bộ trưởng Khu 9.
Nhìn lại giai đoạn mở đầu kháng chiến từ cuối tháng 9/1945 đến tháng 12/1946 - chỉ gần 16 tháng - nhưng Tây Nam Bộ đã làm được nhiều việc rất quan trọng và có ý nghĩa cơ bản lâu dài: củng cố và phát triển tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể và lực lượng vũ trang; phá tan được âm mưu bạo loạn của một số phần tử phản động mượn danh nghĩa đạo Hòa Hảo gây rối; kịp thời chặn đứng âm mưu “chia để trị” của Pháp, để cùng đoàn kết chống Pháp; bắt tay vào việc chống giặc đói, giặc ngoại xâm, đưa lực lượng vũ trang lên chi viện cho mặt trận Sài Gòn - Chợ Lớn; tổ chức các lớp quân sự ngắn ngày để đào tạo cấp tốc một số cán bộ quân sự. Khi giặc Pháp tiến chiếm đến Vĩnh Long, ngày 29/10/1945, lực lượng vũ trang của ta đã chặn đánh quyết liệt ngay từ đầu. Các trận đánh nổi tiếng như: Cái Răng, Nhu Gia, Giá Rai cùng các mặt trận: Giồng Bốm, Phước Long - Ngan Dừa, Cà Mau - Tân Hưng… đã buộc Pháp phải trả giá đắt cho bước đầu đặt chân đến vùng đất này.
Trong tình thế bị chia cắt, phân tán, có nguy cơ tan rã thì quyết định sáng suốt không thực hiện chủ trương “Xuyên Đông”  mà trụ lại, bám dân, bám đất kiên cường, gây dựng lại lực lượng để tiếp tục chiến đấu có ý nghĩa lịch sử đối với sự tồn tại và phát triển của mặt trận kháng chiến Tây Nam Bộ.
Bước ngoặt quan trọng có giá trị quyết định đối với việc tổ chức lại mặt trận chiến đấu là Hội nghị Ngan Dừa (tháng 2/1946), do Khu Bộ trưởng Vũ Đức chủ trì. Sau đó là nhờ tác dụng của chủ trương “Hòa để tiến” (chủ trương của Trung ương Đảng) trong việc ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3 và Tạm ước ngày 14/9 mà phong trào kháng chiến đã tiến lên một bước mới. Những trận đánh vang dội như: Tầm Vu I, Tầm Vu II, Mây Dốc - Vàm Đình (Cà Mau), hai trận đánh thủy lôi trong tháng 11/1946… đã làm nổi bật những chiến công oanh liệt của lực lượng vũ trang Khu 9 trong thời gian này, góp phần đắc lực cùng với cả nước làm giảm áp lực tấn công của quân Pháp trên tất cả các mặt trận và bước đầu củng cố được các căn cứ kháng chiến.
Đạt được những thành tựu to lớn trên, bên cạnh những tấm gương hy sinh của các cán bộ, chiến sĩ quả cảm có vai trò lãnh đạo, chỉ huy nổi bật của đồng chí Vũ Đức - Khu Bộ trưởng đầu tiên của Khu 9. Bằng lý luận và thực tiễn chiến đấu, đồng chí đã xây dựng khối đại đoàn kết vững chắc giữa bộ đội các địa phương khác nhau tại chiến trường Khu 9. Trên cương vị của mình, đồng chí đã xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, bám đất, bám dân, xây dựng căn cứ địa ở miền Tây Nam Bộ, đó là căn cứ địa U Minh vững chắc cho cả cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này; mở mặt trận đoàn kết quốc tế chống thực dân Pháp xâm lược; xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, tôn giáo để chiến đấu chống kẻ thù. Đồng chí Vũ Đức đã có những quyết định sáng suốt để giải quyết những vấn đề lớn trên chiến trường, làm công tác giáo dục sâu rộng trong cán bộ, đồng bào Kinh và đồng bào Khơ me về âm mưu chia rẽ của giặc, nhờ đó lực lượng vũ trang dần được tổ chức chặt chẽ, chỉ huy và lãnh đạo đơn vị ngày càng được củng cố, hoạt động có hiệu quả.
Những đóng góp xuất sắc của đồng chí Vũ Đức đã phát huy tác dụng to lớn, lâu dài cho cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Trịnh Thị Kiều Hạnh, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh