Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Khôi phục và phát triển KT-XH, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lần thứ hai (1969 - 1972)

Thứ năm 28/05/2020 15:00

Thất bại trong “chiến tranh cục bộ”, đế quốc Mỹ chuyển sang tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” nhằm làm chuyển biến tình hình có lợi cho chúng. Thực chất, đây là thủ đoạn “dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam” với đô la, vũ khí và trang bị của Mỹ, do Mỹ trực tiếp chỉ huy.

Vùng trồng thuốc lá tập trung xã Nam Tuấn (Hòa An).

Để thực hiện ý đồ thâm độc đó, chúng gấp rút củng cố ngụy quyền, mở rộng phản kích các vùng giải phóng, tiếp tục đánh phá đường mòn Hồ Chí Minh; xúc tiến hoạt động ngoại giao nhằm cô lập cách mạng giải phóng miền Nam. Trong tình hình mới, miền Bắc vừa ra sức khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, vừa chuẩn bị mọi mặt để đối phó với âm mưu tiếp tục mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ.
Sau khi đế quốc Mỹ ngừng ném bom phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, nhân dân các dân tộc trong tỉnh khẩn trương khôi phục kinh tế, ổn định đời sống. Từ ngày 31/1 - 9/2/1969, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ II được tổ chức trọng thể và kết thúc tốt đẹp. Đại hội xác định phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm là khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố quốc phòng - an ninh.

Trong lúc nhân dân hăng hái lao động sản xuất thì được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Thực hiện Di chúc của Bác Hồ kính yêu, nén đau thương thành hành động cách mạng, cán bộ, đảng viên và nhân dân đoàn kết, gắn bó xây dựng hậu phương vững mạnh, tích cực chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước theo ý nguyện của Người.
Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, năm 1969, thời tiết không thuận lợi, hạn hán kéo dài, bà con nông dân đã chuyển đổi số diện tích đất không gieo cấy lúa sang trồng màu và đẩy mạnh phong trào làm thủy lợi. Nhờ đó, sản lượng lương thực quy thóc vẫn đảm bảo, tuy có giảm so với năm trước. Năm 1970, mặc dù gặp không ít khó khăn về thời tiết, song do sự quyết tâm chỉ đạo của ngành nông nghiệp tập trung thực hiện các giải pháp tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, nhờ đó, Cao Bằng được mùa lớn, sản lượng lương thực quy thóc đạt 108.408 tấn, vượt chỉ tiêu, kế hoạch 35%; đỗ tương tăng 40% so với kế hoạch đề ra.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, họp ngày 15/6/1972, với tinh thần: Trong bất cứ tình huống nào, mọi mặt công tác phải được đẩy mạnh, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, năm 1972, tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 92.120 tấn, tăng 3% so với năm 1971. Đồng thời, tiến hành quy hoạch xong vùng lúa, thuốc lá tập trung ở 18 xã thuộc 2 huyện Hòa An, Hà Quảng. Chăn nuôi được duy trì và phát triển tốt, đàn trâu, bò, ngựa, lợn tăng trưởng hằng năm; công tác định canh, định cư được quan tâm thực hiện gắn với củng cố xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Đến năm 1972, có thêm 25 hợp tác vùng thấp, 2 hợp tác xã vùng định canh, định cư, đưa tổng số hợp tác xã nông nghiệp lên 953 hợp tác xã với 46.140 hộ, chiếm 80% hộ trong toàn tỉnh.
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển, tổng giá trị sản lượng công nghiệp quốc doanh năm 1970 tăng 9,1%, thủ công nghiệp tăng 1,9%. Năm 1971, tổng giá trị sản lượng công nghiệp tăng 9,3%. Ngành thai thác khoáng sản phát triển mạnh, nhất là Mỏ thiếc Tĩnh Túc, từ năm 1970 - 1972, tổng giá trị sản lượng công nghiệp tăng trung bình từ 5 - 10%. Công tác thương nghiệp có nhiều chuyển biến tiến bộ.
Về giao thông vận tải, năm 1970 làm mới và mở rộng đường loại A 546 km, đường loại B 530 km, làm đường xương cá 513 km. Các huyện: Nguyên Bình, Bảo Lạc, Thạch An kết hợp chương trình định canh, định cư với làm đường liên xã, liên xóm, bản; xây dựng cầu treo tạo điều kiện cho nhân dân địa phương đi lại. Phương tiện giao thông vận tải tăng lên hằng năm, đến năm 1972, toàn tỉnh có 6.394 xe các loại với 198 tổ vận tải. Năm 1972, thực hiện chủ trương của tỉnh, ngành giao thông - vận tải chuẩn bị lực lượng đảm bảo giao thông thông suốt trong mọi tình huống, khẩn trương vận chuyển máy móc, trang thiết bị, cơ sở vật chất vào nơi sơ tán an toàn, tiếp tục sản xuất và sẵn sàng chiến đấu.
Sự nghiệp  giáo dục của tỉnh tiếp tục được củng cố và phát triển, hệ thống trường, lớp được quan tâm xây mới. Năm học 1969 - 1970 có 1.880 lớp với 59.517 học sinh; năm học 1971 - 1972 có 2.141 lớp với 60.275 học sinh. Lực lượng giáo viên được tăng cường, năm học 1968 - 1969 toàn tỉnh có 1.808 giáo viên, năm học 1971 - 1972 có 2.155 giáo viên. 

Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn được chú trọng; mạng lưới y tế xã tiếp tục mở rộng đến vùng sâu, vùng xa, vùng rẻo cao hẻo lánh. Năm 1972, số trạm xá xây dựng mới tăng 9%, trang thiết bị y cụ tăng 27% so với năm 1971. Nhờ đó, hiệu quả khám, chữa bệnh cho nhân dân tăng lên 20%, số người điều trị khỏi bệnh tăng 10%.

Công tác văn hóa luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của tỉnh, góp phần tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đoàn Văn công của tỉnh xung phong vào chiến trường miền Nam, đem lời ca, tiếng hát quê hương động viên, cổ vũ bộ đội, thanh niên xung phong, các lực lượng vũ trang hợp thành dọc tuyến đường Trường Sơn.
Phong trào cách mạng của quần chúng và các tổ chức đoàn thể sôi nổi trong những năm tháng hào hùng của dân tộc. Đoàn Thanh niên tỉnh phát động cuộc vận động: “Sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, khơi dậy mạnh mẽ phong trào “Ba sẵn sàng”, lớp lớp thanh niên hăng hái lên đường nhập ngũ. Hội Liên hiệp Phụ nữ dấy lên phong trào “Ba đảm đang”, “Giáo dục đạo đức người phụ nữ mới”. Động viên chồng con gia nhập các lực lượng vũ trang, xung phong vào chiến trường chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. MTTQ và các tổ chức thành viên đẩy mạnh công tác tuyên truyền, động viên đoàn viên, hội viên thi đua lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, tất cả vì miền Nam ruột thịt.
Bị thua trên chiến trường miền Nam, tháng 3/1972, đế quốc Mỹ điên cuồng trở lại ném bom bắn phá miền Bắc lần thứ hai với quy mô và cường độ ác liệt hơn. Cuối năm 1972, chúng dùng cả máy bay B52 ném bom rải thảm Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác ở miền Bắc. Riêng Cao Bằng có 49 lần máy bay Mỹ trinh sát những nơi địa bàn xung yếu, kho tàng, nhà xưởng, bến bãi. Trước tình hình đó, các đơn vị lực lượng vũ trang, dân quân tự vệ được củng cố tăng cường, sẵn sàng chiến đấu. Công tác phòng không nhân dân được đẩy mạnh, chỉ sau một thời gian ngắn, quân, dân Cao Bằng đã hình thành hệ thống hầm hào, ụ pháo và các phương án tác chiến đánh địch trên không. Đồng thời, tỉnh mở nhiều đợt tuyển quân lớn, các đợt tuyển quân đều đạt và vượt chỉ tiêu giao, riêng đội ngũ đi B đạt 104%. Lúc này, toàn tỉnh có 500 gia đình từ 3 - 6 người con đi bộ đội, lực lượng thanh niên gia nhập quân đội chiếm tới 6,28% dân số.
Những năm 1969 - 1972, cùng với cả nước, quân và dân Cao Bằng ra sức khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ thành quả xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; chi viện đắc lực cho cách mạng miền Nam đi tới ngày toàn thắng.
              
Kỳ sau: Xây dựng hậu phương vững mạnh, góp phần chi viện cho cách mạng miền Nam giành thắng lợi (1973 - 1975)

Lê Chí Thanh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh