Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Hoàng Đình Giong - từ Hội đánh Tây đến mặt trận quốc tế chống Pháp

Thứ ba 14/07/2020 05:00

Hoàng Đình Giong (1904 - 1947) (tức Hoàng, Trần Tín, Lầu Voòng, Nam Bình, Văn Tư, Võ Văn Đức, Vũ Đức, Lê Minh, cụ Vũ) đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, là người cộng sản chân chính, nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp và trở thành một trong những cán bộ chính trị, quân sự cao cấp đầu tiên của Đảng, Nhà nước, quân đội ta.

Khu lưu niệm đồng chí Hoàng Đình Giong tại phường Đề Thám (Thành phố).

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Hoàng Đình Giong gắn liền với phong trào cách mạng của quê hương Cao Bằng và cả nước. Với những hoạt động yêu nước ngày đầu tại Trường Bách Nghệ (1926) tại Hà Nội, Hoàng Đình Giong và nhiều học sinh bị thực dân Pháp đuổi học.

Nhưng với tầm nhìn xa trông rộng, đồng chí cùng bạn học là Ninh Văn Phan về Cao Bằng vừa dạy học vừa tuyên truyền cách mạng và tiếp tục giữ mối liên hệ với phong trào yêu nước tại Hà Nội, đồng thời tích cực vận động tổ chức các nhóm yêu nước ở Cao Bằng, lập Hội đánh Tây, Hội Thanh niên phản đế, Hội dạy võ dân tộc... Với sự hoạt động tích cực của Hoàng Đình Giong, từ năm 1927 đã xuất hiện nhiều cơ sở hội đánh Tây ở Hòa An, sau đó lan sang nhiều huyện khác trong tỉnh.

Thấy vậy, trùm mật thám Pơ-ti cho tay sai đi dò la tin tức, manh mối để bắt những người hoạt động cách mạng. Hoàng Đình Giong và các đồng chí của mình tiếp tục đến các địa phương Hòa An, Hà Quảng tuyên truyền, vận động học sinh và bạn bè thân quen cùng vào Hội đánh Tây. Giặc Pháp “đánh hơi” được những hoạt động cách mạng của Hoàng Đình Giong, chúng truy nã gắt gao.

Do yêu cầu đòi hỏi của cách mạng, mùa thu năm 1927, Hoàng Đình Giong bí mật sang Long Châu (Trung Quốc) bắt liên lạc với Ban lãnh đạo Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tham dự các lớp huấn luyện của Hội bồi dưỡng về con đường cách mạng, tổ chức giáo dục thanh niên yêu nước làm cách mạng. Ngày 19/6/1928, đồng chí được kết nạp vào tổ chức này tại cơ sở Long Châu, do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo.

Tháng 12/1929, các đồng chí: Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Nọn, Hoàng Văn Thụ được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng, Chi bộ Hải ngoại Long Châu (Trung Quốc) được thành lập, Hoàng Đình Giong được bầu làm Bí thư. Với tư cách là Bí thư Chi bộ, đồng chí Hoàng Đình Giong được giao nhiệm vụ chỉ đạo việc tổ chức, gây dựng và phát triển phong trào cách mạng ở Cao Bằng, Lạng Sơn và các tỉnh vùng Đông Bắc.

Sau hội nghị thành lập Đảng, Chi bộ Hải ngoại Long Châu chính thức trở thành Chi bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đẩy mạnh phát triển phong trào cách mạng ở các tỉnh, thành phố. Đầu năm 1930, Hoàng Đình Giong cử Hoàng Văn Nọn về Cao Bằng hoạt động, chuẩn bị về tư tưởng lý luận chính trị và tổ chức để tiến tới thành lập tổ chức Đảng ở Cao Bằng.

Ngày 1/4/1930, đồng chí Hoàng Văn Nọn thay mặt Chi bộ Long Châu kết nạp hai đồng chí Lê Đoàn Chu, Nông Văn Đô vào Đảng, tuyên bố thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của Cao Bằng tại Nặm Lìn, xã Hoàng Tung, châu Hòa An do đồng chí Hoàng Văn Nọn làm Bí thư. Sau đó Hoàng Đình Giong tiếp tục chỉ đạo phong trào cách mạng ở các tỉnh vùng Đông Bắc đến khi giành được chính quyền.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Hoàng Đình Giong được Bác Hồ đặt tên là Võ Văn Đức và giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng Bộ đội Nam tiến vào miền Nam chống thực dân Pháp xâm lược. Sáng 1/10/1945, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đón Hoàng Đình Giong sang Bắc Bộ phủ gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng để bàn bạc, trao đổi về tình hình trong nước, thế giới, đặc biệt là tình hình chiến sự đang diễn ra ở Nam Bộ.  

Tại miền Nam, Hoàng Đình Giong trải qua các cương vị: Chính ủy Quân giải phóng Nam Bộ, Khu bộ trưởng (Tư lệnh) đầu tiên của khu IX, Khu bộ trưởng (Tư lệnh) khu VI. Thời kỳ đồng chí làm Tư lệnh khu IX là thời kỳ Pháp muốn đánh nhanh thắng nhanh. Sau một thời gian bị cầm chân tại mặt trận Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn, được viện binh từ Pháp sang, cuối năm 1945, đầu năm 1946 chúng ồ ạt tiến đánh các tỉnh miền Tây Nam Bộ theo nhiều hướng khác nhau. Với ưu thế sức mạnh quân sự của địch, chiến trường trở nên ác liệt, miền Tây Nam Bộ gần như bị quân Pháp bao vây, cô lập.

Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Khu IX tổ chức nhiều cuộc họp tìm hướng giải quyết. Với tầm nhìn chiến lược, đồng chí Vũ Đức đã có những quyết định sáng suốt, phù hợp để giải quyết những vấn đề lớn trên chiến trường. Tháng 3/1946, với tầm nhìn xa trông rộng mang tính chiến lược nhằm xây dựng mặt trận phối hợp có tính quốc tế giữa ta và Campuchia, đồng chí  Vũ Đức cử đoàn đại biểu do Nguyễn Văn Sa làm trưởng đoàn đi Campuchia, qua ngả Thái Lan để vận động Việt kiều ủng hộ kháng chiến chống Pháp và mua vũ khí, sau đó về Campuchia tìm mọi cách liên lạc với Mặt trận Issarak, đề nghị mở mặt trận phối hợp chống thực dân Pháp.

Khi từ Thái Lan trở về, đồng chí Nguyễn Văn Sa được phái đoàn của ta hoạt động ở Thái Lan chuyển cho một bản mật mã để liên lạc, tiếp nhận số vũ khí đã mua ở Thái Lan chuyển về Cà Mau. Thời kỳ này, nước ta có khoảng 10 vạn Việt kiều ở các nước Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia, trong đó hình thành một số tổ chức Việt kiều yêu nước. Được vận động, các tổ chức này đã quyên góp tiền thu mua vũ khí ở các nước về tập kết ở Mai Ruột (Thái Lan), sau đó tìm cách vận chuyển về nước.

Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long II (còn gọi là bộ đội Quang Trung) khi về U Minh, mỗi chiến sĩ mang theo 20 kg vũ khí nhẹ, còn vũ khí nặng do 2 con voi tải theo đoàn. Ngoài ra hơn 150 tấn vũ khí tập kết ở Mai Ruột, sau đó được nhóm của ông Trần Văn Quang - một Việt kiều yêu nước ở Malaysia tiếp tục chuyển về căn cứ U Minh bằng đường biển. Cuối tháng 5/1946, đồng chí Tào Văn Tỵ đi công cán theo lệnh cụ Vũ Đức từ Xiêm (Thái Lan) trở về; đồng chí Tỵ và các đồng chí Lê Hoàng Giáp, Mạc Văn Deo chuyển nhiều vũ khí từ Băng Cốc về Rạch Gốc trang bị thêm cho các đơn vị Khu và tỉnh.

Hoàng Đình Giong là người lãnh đạo, chỉ huy với tầm nhìn xa trông rộng mang tính chiến lược, có trí thông minh sắc sảo, tư tưởng cách mạng lớn; một nhà chính trị, quân sự bản lĩnh kiên định, vững vàng, kết hợp nhuần nhuyễn lý luận với thực tiễn; chỉ đạo giải quyết chính xác, mau lẹ những vấn đề chính trị phức tạp, giải quyết hợp quy luật các mối quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và quốc tế… với lực lượng cách mạng ở các nước Đông Nam Á (Campuchia, Lào, Thái Lan) để chiến đấu chống giặc, đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Đinh Ngọc Viện

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh