Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Giá trị trường tồn của Bản Tuyên ngôn Độc lập

Thứ bảy 01/09/2018 06:00

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, trước hàng triệu quốc dân đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bản Tuyên ngôn độc lập là sự kết tinh cao cả những giá trị nhân văn của nhân loại, có giá trị lịch sử đối với dân tộc Việt Nam và có ý nghĩa thời đại sâu sắc. 73 năm qua, văn kiện lịch sử này luôn có sức sống mạnh mẽ, vẹn nguyên ý nghĩa.

Sau khi khởi nghĩa giành được chính quyền ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Thủ đô và tại ngôi nhà lịch sử số 48 phố Hàng Ngang, Bác đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập. Chiều ngày 2/9/1945, tại cuộc mít tinh ở Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước đông đảo nhân dân Thủ đô và các vùng lân cận tham dự, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với toàn thể nhân dân, với thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập, tự do ra đời.

Thành phố Cao Bằng hân hoan chào mừng ngày Quốc Khánh 2/9.

Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là “Áng văn lập quốc vĩ đại” thể hiện đầy đủ trí tuệ, khí phách, văn hiến, nhân văn, ý chí và khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Bản Tuyên ngôn Độc lập được bắt đầu với một định đề triết học nhân văn dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc". Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Kế tiếp, Người cũng trích bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là lẽ phải không ai chối cãi được”. Hồ Chí Minh đã gắn kết, khẳng định quyền cơ bản của con người và quyền của các dân tộc. Đây là những khái niệm pháp lý của quốc gia và quốc tế được xác lập thành phạm trù luật pháp quốc tế hiện đại: quyền dân tộc cơ bản, bao gồm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Chính điều này mà Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 đã thể hiện giá trị thời đại sâu sắc, nó không chỉ là bản tuyên ngôn của dân tộc Việt Nam, mà trở thành tuyên ngôn về quyền độc lập, tự do của tất cả các dân tộc bị áp bức, đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

Tiếp theo, Bản Tuyên ngôn Độc lập lên án mạnh mẽ hành động cướp nước, chế độ thống trị hà khắc của thực dân Pháp và phát xít Nhật đối với dân tộc Việt Nam. Chúng đã ngụy biện cho hành động xâm lược của mình để rồi chà đạp và cướp đi quyền con người, quyền của một dân tộc; vì vậy mà người dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam không có được cái quyền tất yếu đó. Khi phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật, nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích Pháp và Nhật, càng cực khổ, nghèo nàn hơn, khiến hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói. Nhưng với tinh thần yêu nước và truyền thống anh dũng của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng, chúng ta đã đứng lên giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nhà nước độc lập, tự do của dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuyên ngôn nêu rõ: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”. Đây thực sự là thành quả vĩ đại của toàn thể dân tộc Việt Nam. Từ một nước thuộc địa, bị xóa tên trên bản đồ thế giới, Việt Nam đã giành lại vị thế của một quốc gia độc lập; từ một dân tộc nô lệ, dân tộc Việt Nam đã giành lại được tự do, giành quyền được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, quyền tự quyết định sự phát triển của dân tộc.

Thay mặt nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố với thế giới, đồng thời, cũng khẳng định quyền dân tộc, quyền được hưởng tự do độc lập còn được tăng lên một bậc nữa “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập”. Bản Tuyên ngôn cũng khẳng định quyết tâm bảo vệ quyền tự do và nền độc lập dân tộc mà nhân dân ta đã giành được “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Tư tưởng đó đã củng cố ý chí quyết tâm và khát vọng theo đuổi cho nền độc lập, tự do trọn vẹn ấy của dân tộc.

Sự ra đời của bản Tuyên ngôn độc lập là một mốc son trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, chấm dứt 80 năm đô hộ của thực dân Pháp và hàng nghìn năm phong kiến ở Việt Nam, mở ra giai đoạn mới của một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, tự chủ, đồng thời đấu tranh bác bỏ những âm mưu tái chiếm Việt Nam của các lực lượng thù địch đặc biệt là Pháp và Mỹ, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của dư luận quốc tế. Tuyên ngôn độc lập báo hiệu một thời đại mới, thời đại giải phóng các dân tộc khỏi ách áp bức của chủ nghĩa thực dân trên quy mô toàn thế giới; thời đại phá tan xiềng xích của chủ nghĩa thực dân; thời đại của các dân tộc bị áp bức, bóc lột giành lại quyền sống, quyền độc lập, tự do.

Tuyên ngôn độc lập là bản tuyên ngôn bất hủ, có sức sống trường tồn. 73 năm qua, những tư tưởng bất hủ của Tuyên ngôn Độc lập tiếp tục định hướng cho cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, đặt ra yêu cầu mới đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Tuyên ngôn Độc lập mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam trên hành trình củng cố, giữ gìn độc lập, tự do, hạnh phúc.

Đối với những người dân của quê hương cội nguồn cách mạng Cao Bằng, Tuyên ngôn Độc lập bất hủ 2/9/1945 luôn vang vọng, tràn đầy niềm kiêu hãnh và tự hào trong trái tim từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Cao Bằng đã vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng; lựa chọn những nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, ban hành nhiều cơ chế, chính sách phù hợp, khơi dậy tiềm năng lao động sáng tạo trong nhân dân, đưa kinh tế - xã hội địa phương có nhiều chuyển biến tích cực. Trong niềm vui hân hoan của quê hương, đất nước những ngày Quốc khánh 2/9, nhân dân các dân tộc Cao Bằng quyết tâm đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của từng cán bộ, đảng viên trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao trên tinh thần “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh.

M.T

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh