Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân

Thứ bảy 27/06/2020 06:00

Ngày 17/2/1979, hơn 60 vạn quân Trung Quốc tấn công trên toàn tuyến biên giới 6 tỉnh phía Bắc nước ta. Ở Cao Bằng, chúng tiến đánh theo bốn hướng: Thông Nông, Trà Lĩnh, Phục Hòa, Thạch An; sau đó đánh chiếm Nguyên Bình, Hà Quảng rồi tiến vào thị xã Cao Bằng. Mặt khác, chúng dùng quân địa phương đánh nghi binh một số huyện biên giới Bảo Lạc, Trùng Khánh, Hạ Lang hòng thu hút, kiềm chế lực lượng của ta để cánh quân chiếm xong Thị xã rồi đánh vào các huyện: Quảng Uyên, Trùng Khánh, Trà Lĩnh.

Xe tăng Trung Quốc bị Sư đoàn 346 tiêu diệt ở Bản Sẩy (Hòa An) sáng 18/2/1979. Ảnh: T.L

Âm mưu của chúng là bao vây, chia cắt, bắt sống cơ quan đầu não của ta và tiêu diệt các đơn vị bộ đội, gây bạo loạn, dựng nên con bài chính trị, mị dân kết hợp với đe dọa vũ lực, tàn phá các cơ sở kinh tế, văn hóa, hòng khuất phục chính quyền và nhân dân ta. Quân Trung Quốc đến đâu đều ra sức tàn phá, thẳng tay giết chóc, cướp bóc tài sản, mua chuộc và phân hóa nhân dân, đánh chiếm đồn biên phòng các huyện: Trà Lĩnh, Hà Quảng, Trùng Khánh, Hạ Lang.Chúng  phá hoại nhà cửa, cơ quan, trường học, bệnh viện, công trường, xí nghiệp, kho tàng, bến bãi ở Thị xã và các huyện.

Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh tập trung lực lượng, huy động mọi khả năng để đối phó với địch. Ngày 17/2/1979, Ban Thường vụ Tỉnh ủy họp phiên bất thường quyết định những vấn đề cấp bách, chuyển trạng thái từ thời bình sang thời chiến, chỉ thị cho tất cả các địa phương tổ chức chiến đấu, tăng cường lực lượng trên các tuyến phòng thủ chủ yếu, tổ chức sơ tán nhân dân và các cơ quan hành chính vào nơi an toàn; kiên quyết đẩy lùi các mũi tiến đánh của địch, giữ vững địa bàn khu vực.

Các đơn vị bộ đội chủ lực, tiểu đoàn đặc công, bộ đội địa phương, công an vũ trang, biên phòng, dân quân tự vệ với sự giúp đỡ của nhân dân hăng hái quyết tâm chiến đấu, không ngại hy sinh gian khổ, thực hiện thế trận cài răng lược đánh giặc. Mặc dù chúng đã chiếm được Thị xã, quân ta nhanh chóng hình thành tuyến phòng thủ tại đèo Tài Hồ Sìn nhằm chặn đứng chúng trên Quốc lộ 3. Được sự hỗ trợ, chi viện từ các tỉnh: Hải Hưng, Hà Bắc, huyện Võ Nhai (Thái Nguyên), Tiểu đoàn tự vệ Gang thép Thái Nguyên; cùng với tinh thần bền bỉ, ý chí kiên cường của quân, dân Cao Bằng, sau một tháng giằng co oanh liệt, cuộc chiến đấu chính nghĩa bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành thắng lợi.

Trước sức mạnh của quân và dân ta, cùng với sự lên án của dư luận tiến bộ thế giới, quân xâm lược buộc phải rút lui về nước ngày 16/3/1979. Trên mặt trận Cao Bằng, quân và dân ta đánh thiệt hại 7 tiểu đoàn địch, bắn cháy và phá hủy 134 xe tăng, xe bọc thép, 23 xe quân sự, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng, bắt sống nhiều tù binh.

Chiến tranh tháng 2/1979 để lại những tổn thất rất lớn, 80% xã, 70% nhà cửa bị hủy hoại; 1.500 người chết, 450 người bị bắt. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội bị tàn phá nặng nề, 118/132 máy kéo bị phá hoại; trâu, bò bị mất 10%, lợn bị thiệt hại 40%. Hệ thống kho tàng vật tư nông nghiệp các huyện, Thị xã đều bị phá hoại.

Về giao thông vận tải, các cầu trên tuyến đường quân địch đi qua gần như bị phá hủy hoàn toàn; các tuyến đường 3A, 3B, 4A có tất cả 43 chiếc cầu, trong đó có 4 cầu lớn: Tài Hồ Sìn, Gia Cung, Bằng Giang, Sông Hiến với tổng chiều dài 765 m đều bị đánh sập; 12 cầu bê tông trong Thị xã bị phá hủy hoàn toàn. Đối với thương nghiệp, các công ty cấp II, một số xí nghiệp cấp III đều bị phá hoại, thiệt hại.

Hầu hết các công trình văn hóa, giáo dục, y tế, đài phát thanh bị tổn thất nặng nề, Khu Bảo tàng Pác Bó - nơi lưu giữ những kỷ vật giá trị về Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng bị phá hủy, cửa hang Pác Bó bị đánh sập. Các hoạt động kinh tế, văn hóa, ngoại giao bị đình trệ, vùng biên giới lâm vào tình trạng khó khăn, tiếp tục căng thẳng, bất ổn trong thời gian dài.

Sau khi chiến tranh kết thúc, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, quân và dân các dân tộc tỉnh tập trung mọi nguồn lực khôi phục và phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, nhất là vùng biên giới. Nhà nước điều động các bộ, ngành, các tỉnh trong nước cung cấp khối lượng lớn vật tư, lương thực, thực phẩm và các mặt hàng tiêu dùng cần thiết nhất cho Cao Bằng. Năm 1980, tỉnh nhận được 2.148 tấn vật tư, phân bón; 2.450 tấn xăng, dầu; 602 tấn kim khí, 84 xe ô tô, 47 máy phát lực… Sự quan tâm kịp thời của Trung ương là động lực to lớn giúp Đảng bộ và nhân dân kiên cường đứng lên từ sự đổ nát chiến tranh, vượt qua những đau thương để xây dựng cuộc sống mới.

Sự nghiệp văn hóa, xã hội được khôi phục nhanh chóng. Nhờ sự cố gắng của ngành giáo dục, các địa phương và nhân dân, các trường học được xây dựng lại. Do ảnh hưởng của chiến tranh, năm học 1979 - 1980, số học sinh và giáo viên trong tỉnh giảm; năm học 1980 - 1981, toàn tỉnh xây dựng 370 nhà trẻ, 295 trường, 4.358 lớp với 4.581 giáo viên, 121.851 học sinh. Năm 1980, các cơ sở y tế, bệnh viện, trạm xá duy trì số giường bệnh gần bằng trước chiến tranh. Đội ngũ y, bác sĩ được củng cố cả về số lượng, chất lượng, cơ bản đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân.

Công tác quốc phòng - an ninh luôn được tỉnh quan tâm sâu sát, sau chiến tranh, lực lượng bộ đội, công an, biên phòng, dân quân tự vệ nhanh chóng được củng cố, tăng cường, nâng cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu.

Được sự quan tâm của Trung ương Đảng, Chính phủ, với sự nỗ lực vượt qua khó khăn, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh ra sức khôi phục hậu quả sau chiến tranh và đạt những thành quả quan trọng trong xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đảm bảo; đời sống nhân dân ổn định, yên tâm bước vào xây dựng cuộc sống mới.

Kỳ sau: Nỗ lực cùng cả nước thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981 - 1985)

Lê Chí Thanh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh