Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Cánh cửa quan hệ Việt - Mỹ được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khai mở từ Cao Bằng

Chủ nhật 12/07/2020 05:00

Trong lịch sử Việt Nam hiện đại, đấu tranh ngoại giao luôn là  mặt trận quan trọng. Trên phương diện này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tỏ rõ tài năng kiệt xuất. Người khéo vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm ngoại giao trong lịch sử với tinh thần độc lập, chủ động “dĩ bất biến, ứng vạn biến” giúp định hướng chính xác và thực hiện thành công công tác ngoại giao trong từng thời kỳ cách mạng.

Nơi đầu tiên Trung úy Uyliam Sao ẩn nấp. Ảnh: Hoàng Quảng Uyên

Ngày 28/1/1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Tại Pác Bó (Hà Quảng), Người cùng Trung ương Đảng tích cực chuẩn bị cho sự thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong đó có việc tranh thủ các mối quan hệ quốc tế.

Đầu năm 1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh tới Côn Minh (Trung Quốc) - nơi có căn cứ các nước đồng minh và trụ sở Không đoàn 14 của Mỹ dưới sự chỉ huy của Tướng Sênôn. Chủ trương của Người là chủ động đặt quan hệ với Mỹ, làm cho người Mỹ hiểu rõ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống phát xít Nhật và tranh thủ sự giúp đỡ từ phía Mỹ.

Từ Cao Bằng, lãnh tụ Hồ Chí Minh lên đường cùng với “món quà” đặc biệt để “tặng” Mỹ là Trung úy phi công Uyliam Sao (William Shaw), được Mặt trận Việt Minh cứu thoát khi nhảy dù xuống Cao Bằng (tháng 11/1944) do máy bay gặp nạn bị quân phát xít Nhật, đế quốc Pháp ráo riết săn lùng.

Buổi chiều ngày 2/11/1944, Trung úy phi công Uyliam Sao - thuộc Phi đội 51, Không đoàn số 14 của Mỹ đóng tại Hoa Nam (Trung Quốc) - đang bay làm nhiệm vụ thì máy bay gặp nạn, buộc phải nhảy dù xuống Nà Thúm (nay thuộc phường Ngọc Xuân, Thành phố), Trung úy Uyliam Sao được ông Đoàn Văn Cừ (là hội viên Hội Thanh niên Cứu quốc) đang gặt lúa đưa vào chân núi Kỳ Sầm, sau đền Kỳ Sầm tạm thời ẩn nấp nên thoát khỏi sự truy lùng của quân Nhật, Pháp. Khi mới gặp ông Cừ, Trung úy Uyliam Sao đưa một xấp tiền cho ông Cừ nhưng ông Cừ không nhận và ra hiệu cho phi công theo mình đi ẩn nấp.

Sau khi Trung úy Uyliam Sao được đưa đến nơi an toàn thì quân Pháp, Nhật cũng tiếp cận và phong tỏa khu vực máy bay rơi, tổ chức lùng sục tìm kiếm phi công. Trước tình hình đó, việc bảo vệ an toàn và giữ phi công tại địa phương lâu sẽ không có lợi cho cả Uyliam Sao và quân ta. Trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng Trung úy Uyliam Sao vẫn được bảo vệ chu đáo.

Sau đó, quân Nhật, Pháp chuyển sang hướng khác, theo nhận định của chúng thì có thể phi công Uyliam Sao đang tìm cách chạy thoát về phía biên giới Việt Nam - Trung Quốc theo hướng Phục Hòa. Đồng chí Đoàn Nguyên Nhật (Hồng Kỳ), Chủ nhiệm Việt Minh cử người đến báo cáo đồng chí Nam Cường, lúc đó là Bí thư Chi bộ Xuân Phách (nay là phường Đề Thám, Thành phố) báo cáo đồng chí Hoàng Tuấn Sơn, là Châu ủy châu Hòa An. Ông Hoàng Tuấn Sơn cùng ông Hùng Quốc, Cường Linh đến đón Trung úy Uyliam Sao rồi chèo mảng ngược dòng sông Bằng về căn cứ Lam Sơn (Hồng Việt, Hoà An).

Để bảo đảm an toàn nên phải đưa Trung úy Uyliam Sao đi vào ban đêm, khi đến Lam Sơn đã 2 giờ sáng. Ông Hoàng Tuấn Sơn báo cáo đồng chí Tống (Phạm Văn Đồng) và đồng chí Lã (Hoàng Đức Thạc) - Bí thư Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng. Đồng chí Tống cho người đón Trung úy Uyliam Sao lên khu căn cứ và báo cáo lãnh tụ Hồ Chí Minh lúc đó đang ở Pác Bó (Hà Quảng), khoảng 10 ngày sau thì nhận được chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh: Cần tổ chức đưa Trung úy Uyliam Sao lên Pác Bó, chú ý bảo vệ thật an toàn.

Từ căn cứ Lam Sơn lên Pác Bó khoảng 50 km, đồng chí Tống cử các đồng chí: Cao Hồng Lĩnh, Bằng Giang, Thế An trực tiếp đưa Trung úy Uyliam Sao đi. Đoàn lên đường khoảng giữa tháng 11/1944, phải mất thời gian hơn nửa tháng, đoàn mới đưa Trung úy Uyliam Sao đến Pác Bó.
Từ Pác Bó, lãnh tụ Hồ Chí Minh trực tiếp đưa Trung úy Uyliam Sao sang Trung Quốc, đến Côn Minh, mở ra một cánh cửa bang giao mới.

Sau khi chuẩn bị những nội dung công việc cần thiết để lại, lãnh tụ Hồ Chí Minh cùng đoàn lên đường. Rút kinh nghiệm chuyến đi trước và đề phòng bất trắc, lãnh tụ Hồ Chí Minh chia đoàn làm 3 tốp, một tốp đi trước dò đường, tốp giữa dẫn Trung úy Uyliam Sao, tốp cuối có nhiệm vụ bảo vệ phía sau. Các đồng chí Phùng Thế Tài, Đinh Đại Toàn luôn đi cùng lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đi được vài ngày thì đoàn đến Tịnh Tây (Trung Quốc).

Lúc đó Trần Bảo Thương là Quân đoàn trưởng của quân Tưởng Giới Thạch có thể đã nhận được chỉ đạo của cấp trên nên giở thủ đoạn gây khó khăn cho đoàn, làm cho đoàn mất chỗ dựa là chúng “hớt tay trên” không cho lãnh tụ Hồ Chí Minh trực tiếp đưa Uyliam Sao về Côn Minh, mà Trần Bảo Thương tự đưa Uyliam Sao đi bằng ô tô, máy bay đến Côn Minh.

Lãnh tụ Hồ Chí Minh đột nhiên mất chỗ dựa, có thể còn mất cả một phần an toàn  nhưng vẫn không nản chí mà quyết thực hiện theo kế hoạch là phải đến Côn Minh, phải gặp được Bộ Chỉ huy Đồng Minh do Mỹ chỉ huy đang đóng ở đó. Cuộc hành trình gặp nhiều gian khổ, mất gần một tháng lãnh tụ Hồ Chí Minh mới đến Côn Minh trong tình trạng sức khỏe yếu, sốt cao.

Chặng đường khó khăn vất vả nhưng khi lãnh tụ Hồ Chí Minh đến Côn Minh thì Trung úy Uyliam Sao đã lên đường về Mỹ, song Uyliam Sao đã để lại báo cáo về việc được lực lượng Việt Minh cứu thoát, về phong trào lớn mạnh của Việt Minh, Uyliam Sao còn bày tỏ tình cảm sâu sắc với Việt Minh và cá nhân lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Như vậy là mục đích trực tiếp đưa Uyliam Sao đến và qua việc bàn giao Uyliam Sao để gặp Tướng Sênôn đã không thành. Nhưng lãnh tụ Hồ Chí Minh vẫn kiên trì chờ đợi và tìm mọi cách để tiếp cận với tướng Mỹ. Trong thời gian chờ đợi, lãnh tụ Hồ Chí Minh  tranh thủ gặp kiều bào Việt Nam đang làm ăn tại Vân Nam, nắm tình hình hoạt động của các tổ chức, cá nhân yêu nước đang hoạt động tại Côn Minh. Người còn dành thời gian tới Phòng Thông tin chiến tranh (OWI) tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu, Sở Chỉ huy Sư đoàn không quân số 14, Cơ quan phục vụ chiến lược (OSS), Cơ quan cứu trợ không quân (AGAS).

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, người Mỹ tìm đến lãnh tụ Hồ Chí Minh. Ngày 17/3/1945, Trung úy Sáclơphen là người trực tiếp chỉ huy nhóm tình báo Đồng Minh ở Việt Nam lúc đó, theo giới thiệu của AGAS gặp lãnh tụ Hồ Chí Minh. Cuộc gặp gỡ sau đó vào ngày 20/3/1945, hai bên thỏa thuận phương thức hợp tác. Phía Việt Minh đồng ý cung cấp địa bàn hoạt động. Phía Mỹ nhận cung cấp phương tiện thông tin liên lạc, người sử dụng và giúp Việt Nam huấn luyện người sử dụng.

Ngày 29/3/1945, lãnh Hồ Chí Minh và Tướng Sênôn được bố trí gặp nhau. Tướng Sênôn cảm ơn Việt Minh cứu phi công Mỹ, lãnh tụ Hồ Chí Minh nhấn mạnh trách nhiệm của những người chống phát xít là phải giúp đỡ đồng minh. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhận từ Tướng Sênôn tấm ảnh chân dung với dòng chữ “Bạn chân thành của ông Claice L. Chennault”.

Những cuộc tiếp xúc với hầu hết các cơ quan của Mỹ đóng trên đất Trung Quốc có thể coi là những thông điệp của lãnh tụ Hồ Chí Minh báo cho thế giới biết rằng: Mặt trận Việt Minh do lãnh tụ Hồ Chí Minh lãnh đạo có tư cách là một bộ phận của Mặt trận Đồng Minh đang cùng thế giới, cùng Mỹ chống phát xít, và cánh cửa quan hệ Việt - Mỹ đã được mở.

 Lãnh tụ Hồ Chí Minh tranh thủ mối quan hệ này để làm nhiều việc cho cách mạng. Thông qua cách ứng xử của lãnh tụ Hồ Chí Minh mà người Mỹ hiểu cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, phía Mỹ với tư cách là một nước đồng minh chống phát xít, thông qua sự chỉ đạo của Bộ Tổng chỉ huy ở Trùng Khánh (Trung Quốc) giúp Việt Minh về cán bộ, thuốc men, súng ống… Khi lãnh tụ Hồ Chí Minh trở lại Cao Bằng, bước đầu phía Mỹ cử hai cán bộ kỹ thuật báo vụ là Ph.Tan và Mácxin mang theo những thiết bị thông tin liên lạc giúp cách mạng Việt Nam.

Mỹ đã giúp đào tạo người sử dụng điện đài, cung cấp một số vũ khí, thuốc men, hai lần dùng máy bay giúp Mặt trận Việt Minh của Việt Nam rải 8 vạn tờ truyền đơn bằng tiếng Việt xuống miền Bắc Việt Nam. Việc máy bay Mỹ rải truyền đơn của Việt Minh đề cao uy tín của Việt Minh đang đứng về phe Đồng Minh cùng Mỹ đánh Nhật.

Từ mối quan hệ đó, Mỹ lập được mạng lưới vô tuyến điện từ Hà Nội đến Sài Gòn. OSS bố trí một tổ vô tuyến điện bên cạnh lãnh tụ Hồ Chí Minh để liên lạc giữa OSS và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Qua các cơ quan của Mỹ, lãnh tụ Hồ Chí Minh gửi nhiều thư, tài liệu cho Liên Hiệp Quốc, các chính khách Mỹ và quốc tế để tranh thủ sự ủng hộ của họ cho cách mạng Việt Nam.

Ngày 30/6/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh trả lời Thiếu tá Patti rằng, Người đồng ý tiếp nhận một nhóm người Mỹ nhảy dù xuống Việt Bắc. Ngày 17/7/1945, một đội người Mỹ nhảy dù xuống bãi Kim Long, Tân Trào (Tuyên Quang) do Thiếu tá E.Tômát phụ trách, mang theo điện đài và vũ khí nhiều loại.

Lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập bộ đội Việt - Mỹ do Đàm Quang Trung chỉ huy, lúc đầu có 200 người. E.Tômát là Tham mưu trưởng đơn vị, cùng nhiều người Mỹ khác huấn luyện sử dụng vũ khí mới của Mỹ giúp và chiến thuật du kích cho chiến sĩ ta. Ngày 16/8/1945, bộ đội Việt - Mỹ đánh Nhật ở Thái Nguyên, sau đó về Hà Nội.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có nhiều nguyên nhân, trong đó có công tác ngoại giao của lãnh tụ Hồ Chí Minh và khi có lực lượng mạnh mẽ của toàn dân, thời cơ đến, Người quyết định Tổng khởi nghĩa đúng lúc - đưa cách mạng đến thành công.

Đinh Ngọc Viện

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh