Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Bộ quan đầu tỉnh nhũng nhiễu đều không khoan thứ

Thứ sáu 22/11/2019 10:00

Năm 1802, vương triều Nguyễn được thiết lập và đặt tên nước ta là Nam Việt, đến năm 1804 đổi tên nước là Việt Nam. Bộ máy hành chính địa phương ở phía Bắc, đầu triều Nguyễn và suốt thời Gia Long gần như giữ nguyên theo cách thức tổ chức cũ của triều Lê - Trịnh. Cao Bằng là 1 trong 11 trấn thuộc Bắc Thành và được xếp vào ngoại trấn.

Nhằm thống nhất về chính trị trên phạm vi toàn quốc, ngay sau khi vừa thiết lập vương triều, Gia Long cho đặt phủ huyện ở Bắc Hà. Đối với những phủ, huyện, châu thiểu số ở Cao Bằng thì lấy quan người địa phương quản lãnh. Đứng đầu trấn là các chức Trấn thủ, Tham trấn, Hiệp trấn và Cai bộ. Bộ phận giúp việc là đội ngũ Thư lại.
Trấn thủ đầu tiên trị nhậm ở Cao Bằng thời vua Gia Long là Lê Văn Tiến, Lê Văn Chính làm Hiệp trấn, Nguyễn Văn Nghi làm Tham hiệp. Trấn Cao Bằng có 1 phủ là Cao Bằng, 4 châu là Thạch Lâm, Quảng Uyên, Thượng Lang, Hạ Lang. Trấn lỵ Cao Bằng đặt ở địa phận xã Gia Cung, châu Thạch An.
  Thời Minh Mệnh, tổ chức hệ thống hành chính các cấp cũng như xếp đặt quan chức ở Cao Bằng có một số thay đổi đáng kể. Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), nhà Nguyễn cho đổi định số viên chức ở hai ty thuộc trấn Cao Bằng là 60 người, cai hợp thực thụ trước, thì đổi bổ chánh bát phẩm thư lại; thủ hợp đổi bổ chánh cửu phẩm thư lại. Tháng 7 năm Bính Tuất (1826), nhà Nguyễn cho đặt phủ Trùng Khánh ở Cao Bằng, lấy thêm bốn châu Thượng Lang, Hạ Lang, Thạch Lâm, Quảng Uyên.
Năm 1827, Minh Mệnh thấy các phủ huyện, đinh điền có chỗ nhiều, chỗ ít, công việc có nơi phức tạp, nơi đơn giản nên sai hai bộ Lại, Hộ bàn kỹ, nơi nào nên đặt thêm Phủ đồng tri hay Huyện thừa thì tâu lên. Theo quy định thì những phủ, huyện ở Cao Bằng đều chưa đủ số đinh và số điền để đặt thêm các chức Đồng tri phủ và Huyện thừa. Tính đến năm 1819, tổng số đinh của Cao Bằng hơn 8.000 người, công tư điền thổ hơn 36.600 mẫu. Trong năm 1819, Minh Mệnh lại cho đổi tên các chức Thư ký, Cai án, Tri bạ các thành, trấn làm tả hữu Thông phán; Câu kê làm tả hữu Kinh lịch; Thổ ty, Thổ tri phủ, Thổ cai châu các trấn làm Thổ tri châu; Thổ cai huyện làm Thổ tri huyện; Phó châu làm Thổ lại mục. Những người giữ các chức trên đều được cấp văn bằng mới để phân biệt rõ ràng thứ bậc và chính thức quan danh. Đồng thời, Minh Mệnh sai triều thần bàn bạc xét định quy thức xây dựng phủ lỵ, huyện lỵ cho các địa phương. Những phủ huyện nào chưa xây thành cho phép chọn địa thế phù hợp, ở trung tâm để xây dựng lỵ sở nhà cửa và thành đất. Quy mô lỵ sở cấp huyện nhỏ hơn cấp phủ, còn thành rộng hay hẹp tùy theo số nhân viên nhiều hay ít mà định. Việc tuyển chọn quan lại trị nhậm các địa phương (đặc biệt là ở những địa phương xa Kinh đô) được triều Nguyễn rất quan tâm, trước hết phải là những người có kinh nghiệm vỗ về, phủ dụ dân chúng. Năm 1820, triều thần tiến cử Thiêm sự Công bộ Trần Văn Thông làm Hiệp trấn Cao Bằng. Minh Mệnh căn dặn Trần Văn Thông rằng: “Bề tôi làm việc, nhầm lẫn thì có thể tha, tham nhũng thì không khoan thứ được. Bọn các ngươi phải gắng giữ mình trong sạch, chớ để mất danh dự”.
Một số trường hợp quan lại ở Cao Bằng tham nhũng đã bị trừng phạt nghiêm khắc. Trong Đại Nam thực lục chính biên ghi rõ: “Năm 1804, Trấn thủ Cao Bằng là Lê Văn Tiến và Hiệp trấn Lê Văn Chính có tội bị bãi, lấy trấn thủ Yên Quảng là Nguyễn Hữu Đạo làm Trấn thủ Cao Bằng, Hàn lâm viện Nguyễn Văn Hoàng làm Hiệp trấn”. Năm 1820, “Trấn thủ Cao Bằng là Nguyễn Bá Xuyến, Hiệp trấn là Trần Văn Thái, vì nhũng lạm bị tội miễn chức. Lấy cựu Trấn thủ Thái Nguyên là Nguyễn Công Đát làm Trấn thủ Cao Bằng, Tham hiệp Kinh Bắc là Lê Đình Khuê làm Hiệp trấn, Tri phủ Ứng Hòa là Phùng Khắc Tuân làm Tham hiệp”.
 Tháng 7/1829, Minh Mệnh ra lệnh bãi lệ thổ ty thế tập ở các trấn Bắc Thành và ban hành quy chế bổ nhiệm: Đối với các châu, huyện thuộc trấn Cao Bằng, tùy theo mức độ công việc, dân số nhiều ít, nên đặt Thổ tri châu, Tri huyện, Huyện thừa, Lại mục thì bàn định rõ ràng. Xét trong hạt ai là thanh liêm, có tài, được dân tin phục thì chọn cử tâu lên, không theo như trước xưng là tập quản.
Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), đình thần hội bàn chia đặt các tỉnh thay cho các trấn, đổi trấn làm tỉnh ở Bắc Thành. Đến năm 1834 đổi châu làm huyện. Bỏ các chức Tổng trấn, Trấn thủ, Tham trấn, Hiệp trấn và thay bằng các chức Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát, Lãnh binh.
Năm 1831, theo lời tâu của Hoàng Văn Quyền, Tuần phủ Lạng - Bình (Lạng Sơn, Cao Bằng), Minh Mệnh cho đặt lỵ sở ở 4 châu (Thạch Lâm, Quảng Uyên, Thượng Lang, Hạ Lang) cho các thổ tri châu làm việc, đốc thúc binh lương, bổ sung những người không có tên trong sổ nơi sở tại làm thuộc lệ và cho phép chiêu mộ thủ hạ để sai phái và giao công việc.
Kỳ sau: Ba trung thần giữ trọn tiết nghĩa, xứng danh lập đền thờ phụng

Đinh Ngọc Viện

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh