Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Ba trung thần giữ trọn tiết nghĩa, xứng danh lập đền thờ phụng

Thứ ba 26/11/2019 15:00

Trong những năm 1833 - 1835, triều Nguyễn phải lo đối phó với nhiều cuộc nổi dậy có quy mô lớn, tiêu biểu là hai cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi ở Gia Định và Nông Văn Vân ở Cao Bằng. Địa bàn hoạt động của quân nổi dậy do Nông Văn Vân lãnh đạo rất rộng lớn, bao gồm hầu hết các tỉnh phía Bắc trong đó Tuyên Quang, Cao Bằng là nơi diễn ra dai dẳng và quyết liệt nhất. Nhà Nguyễn không thể dẹp yên cuộc nổi dậy, thường xuyên phải điều quan quân từ Bắc Ninh, Sơn Tây, Hải Dương, Hà Nội lên để đối phó.

Nông Văn Vân xuất thân dòng dõi thổ ty châu Bảo Lạc. Căn cứ vào ghi chép trong Bắc Kỳ tiễu phỉ, vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, châu Bảo Lạc thuộc quyền quản lĩnh của Thổ ty Nông Văn Bật. Thời Tây Sơn, con của Nông Văn Bật là Nông Văn Liêm thế tập cai quản đất Bảo Lạc. Sang thời Nguyễn, sau khi Nông Văn Liêm và con trưởng là Nông Văn Trang mất, người con thứ hai là Nông Văn Vân giữ chức Tri châu Bảo Lạc. Nông Văn Vân là anh vợ của Lê Văn Khôi (người cầm đầu cuộc nổi dậy ở Nam Kỳ cùng thời gian đó), đã có mối liên hệ với nhau để cùng khởi sự.
Cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân bùng nổ năm 1833. Ngay từ đầu, Nông Văn Vân được rất nhiều thổ ty, thổ mục tham gia hưởng ứng như: Ma Sĩ Vinh, Ma Doãn Cao ở Bảo Lạc; Nguyễn Thế Nga, Ma Trọng Đại, Ma Trường An ở Vị Xuyên (nay thuộc Hà Giang); Lưu Trọng Chương, Hoàng Trinh Tuyên ở Lục Yên (Yên Bái); Nguyễn Quảng Khải, Ma Đức Thái, Ma Doãn Dưỡng ở châu Đại Man.
Trong suốt cuộc nổi dậy, Nông Văn Vân chọn Vân Trung, Ngọc Mạo (Bảo Lạc) là căn cứ chỉ huy. Lợi dụng địa hình núi non hiểm trở, quân nổi dậy “xuất quỷ nhập thần” thường xuyên phục kích gây nhiều tổn thất cho các đạo quân của triều đình vốn không quen thủy thổ và địa bàn. Từ căn cứ này, mỗi khi bị quân triều đình vây ráp khẩn cấp, quân nổi dậy có thể sang bên kia biên giới ẩn tránh và quay lại hoạt động khi có thời cơ.
Từ Bảo Lạc, quân nổi dậy tiến công chiếm đồn Ninh Biên. Thừa thắng, quân nổi dậy mở rộng địa bàn tiến đánh Bắc Kạn, Thái Nguyên. Cả một dải Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn chấn động. Trong hơn 2 năm (1833 - 1835), triều đình nhà Nguyễn chủ yếu tập trung tài lực vào việc tổ chức hành binh đàn áp các cuộc nổi dậy ở trong Nam, ngoài Bắc. Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên là những chiến trường sôi động. Chính sử nhà Nguyễn ghi chép lại khá đầy đủ các trận đánh lớn giữa quân nổi dậy với quân triều đình. Trong trận vây đánh Cao Bằng do Nông Văn Vân và Bế Văn Cận chỉ huy, lực lượng lên đến 6.000 người.
 Quyết tâm dập tắt bằng được cuộc nổi dậy, nhà Nguyễn đã huy động lực lượng và vũ khí tối đa, cử nhiều tướng giỏi trực tiếp chỉ huy. Biền binh các tỉnh Hà Nội, Thanh Hóa, Sơn Tây, Bắc Ninh thường xuyên được điều động lên Cao Bằng.
Cuối tháng 8, đầu tháng 9 năm Quý Tỵ (1833), Nông Văn Vân đem quân vây hãm Cao Bằng trong hơn 1 tháng. Trong thành cạn lương thực, thuốc súng cũng hết, quân cứu viện của nhà Nguyễn do Tạ Quang Cự chỉ huy bị chặn đánh ở Lạng Sơn nên không ứng cứu kịp thời.
Thổ Tri châu Thạch Lâm là Nguyễn Hữu Giám gặp quân của Nông Văn Vân ở núi Phốc Dã, chống cự không nổi, lui về châu sở. Lãnh binh Phạm Văn Lưu nghe tin cũng lui về tỉnh thành.
Thự Bố chính Bùi Tằng Huy, Án sát Phạm Đình Trạc bàn nhau, cho rằng tỉnh thành gần sát nơi dân ở, lại không có hào lũy thành quách, thế khó giữ. Nếu lúc cần kíp, nên dời đến chỗ kho của tỉnh ở đồn núi Ninh Lạc, dựa vào chỗ hiểm, đợi quân cứu viện. Rồi đem cả nguyên do tâu lên vua.
Vua dụ rằng: “Nguyễn Hữu Giám nguyên là tỉnh phái đem quân đi tuần phòng bắt giặc, không hay ra sức đánh dẹp, vừa mới thấy không chống nổi, đã vội rút về châu sở, tự ý lẩn lút cầu yên như thế là rất hèn kém! Vậy lập tức cách chức, việc này phải tra xét rõ ràng tâu lên”. “Bùi Tằng Huy và Phạm Đình Trạc đều có trách nhiệm giữ bờ cõi, mà tỉnh thành là nơi để sổ sách và đồ vật nhà nước ở đấy, lại trực cho là của bỏ đi, định rút đến kho của tỉnh ở đồn núi Ninh Lạc để giữ. Những từ tâu lên thật là mập mờ lộn xộn. Vả lại nếu lui giữ đồn ở núi, dựa chỗ hiểm mà có thể kiêm coi cả được tỉnh thành thì còn khá, hoặc giả tiền lương, sổ sách đồ vật nhà nước ở tỉnh đều có thể chuyển vận đến đồn núi được, thì trong tập tấu sao không nói rõ, mà thình lình lại bàn đến việc bỏ thành? Người bề tôi có trách nhiệm giữ bờ cõi, sao được khinh suất như thế! Huống chi bọn giặc mới đến đầu tỉnh, đã vội sợ hãi hão huyền, lại là cớ sao? Vậy Bùi Tằng Huy và Phạm Đình Trạc trước hết đều phải giáng 2 cấp. Các ngươi phải nên hăng hái cố gắng thêm lên, không nên tự mình nhụt trước, cần khuyến khích cổ vũ quân lính, tùy cơ mà đánh hay giữ. Nếu một khi có sự sơ suất đáng lo thì sẽ xử theo quân luật. Các ngươi thử nghĩ xem có chịu được lỗi nặng ấy không?”.
Nhận được dụ của nhà vua, cả Bùi Tằng Huy, Phạm Đình Trạc, Phạm Văn Lưu đều ra sức chống phá, quyết chiến đến cùng, nhưng khí thế của nghĩa quân Nông Văn Vân quá lớn, không sao chống phá được, cuối cùng, thế cùng, lực kiệt, Bùi Tăng Huy, Phạm Đình Trạc và Phạm Văn Lưu đành tuẫn tiết, quyết thể hiện lòng trung nghĩa của mình với triều đình. Trong Đại Nam thực lục ghi rõ sự kiện này.
Sau khi tuẫn tiết, với những việc làm và hành động nghĩa khí, cả ba ông được coi là trung thần của triều đình. Theo chỉ dụ của vua, không lâu sau, một đền thờ được dựng lên tại nơi các ông tuẫn tiết, đền thờ đó gọi là đền Tam Trung (nay thuộc khu vực ngã tư đầu cầu Bằng Giang, thuộc phường Sông Bằng, Thành phố). Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đền bị phá hủy hoàn toàn, nay chỉ còn địa danh Tam Trung.

Kỳ sau: Quan tỉnh, phủ, huyện đồng lòng dẹp giặc được triều đình ban thưởng

Đinh Ngọc Viện

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh