Vị giáo sư với những cống hiến cho ngành ngôn ngữ học

Thứ năm 26/10/2017 06:00

Với trăn trở về sự mai một của tiếng nói các dân tộc thiểu số, PGS. TS Hoàng Văn Ma đã dành trọn cuộc đời nghiên cứu của mình để tìm hiểu, nghiên cứu các ngôn ngữ và duy trì nó như một thói quen để những ngôn ngữ đặc biệt này tiếp tục tồn tại với sự phát triển chung của dân tộc…

Có duyên với ngành ngôn ngữ

TS Hoàng Văn Ma sinh ngày 1/9/1937, tại xã Phong Châu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Năm 1959, ông tốt nghiệp THPT và được cử đi học ngoại ngữ tại trường Bổ túc ngoại ngữ Gia Lâm (nay là ĐH Hà Nội) để đi học ở Liên Xô (cũ). Tại khoa ngữ Văn, trường ĐH Tổng hợp Lomonosov, ông theo học chuyên ngành về ngôn ngữ học. Năm 1964, ông về nước và lại được cử đi học tiếp 1 năm tại Liên Xô về nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc.

Tháng 8/1965, ông về công tác tại Ban Ngữ âm - ngôn ngữ dân tộc thuộc tổ Tổ ngôn ngữ học, trực thuộc Ủy ban Khoa học xã hội. Năm 1968 Viện Ngôn ngữ học được thành lập trên cơ sở hợp nhất Tổ ngôn ngữ học và Tổ thuật ngữ.

Ông công tác ở Ban Ngữ âm - ngôn ngữ dân tộc. Năm 1977, Ban Ngữ âm - ngôn ngữ dân tộc được tách thành hai ban: Ban Ngữ âm và Ban Ngôn ngữ dân tộc. Ông được bổ nhiệm chức vụ Trưởng Ban ngôn ngữ dân tộc, thuộc Viện Ngôn ngữ học. Năm 2000, ông nghỉ công tác quản lý để tập trung cho chuyên môn. Ông công tác ở Viện Ngôn ngữ học đến năm 2002 về nghỉ hưu. Ông được phong Phó giáo sư năm 1991.

Những năm tháng công tác tại Viện Ngôn ngữ học, PGS. TS Hoàng Văn Ma đã có nhiều cống hiến đáng kể cho ngành ngôn ngữ học nước nhà với tư cách là chuyên gia hàng đầu về ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam, đặc biệt là các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Tai - Kadai.

Nhiều công trình nghiên cứu về các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Tai - Kadai đã được ông tham gia biên soạn, như: Ngữ pháp tiếng Tày Nùng (1971, viết chung với Lục Văn Pảo, Hoàng Chí); Từ điển Tày - Nùng - Việt (1974, biên soạn chung với Lục Văn Pảo); Từ điển Việt - Tày - Nùng (1984, biên soạn chung với Lục Văn Pảo); Tiếng La Ha (1986, tiếng Nga, viết chung với Solnceva, N.V.); Tiếng Pu Péo (1992, viết chung với Vũ Bá Hùng).

Ngoài chuyên môn sâu về các ngôn ngữ Tai - Kadai, trong chương trình hợp tác với Viện Đông Phương học và Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (và sau này là Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga), ông đã tham gia nhiều đợt nghiên cứu điền dã các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam thuộc nhiều ngữ hệ ở khắp các vùng miền của đất nước từ năm 1979 đến năm 1999.

Một số trong những sản phẩm của chương trình hợp tác Việt Xô (sau này là Việt - Nga) mà ông tham gia viết là cuốn Tiếng La Ha (1986, tiếng Nga), và cuốn Tiếng Bru - Vân Kiều (1998, viết chung với Tạ Văn Thông).

Không chỉ nghiên cứu các ngôn ngữ trên bình diện đồng đại, ông còn đi sâu nghiên cứu các ngôn ngữ trên bình diện loại hình và quan hệ cội nguồn. Hàng loạt những công trình, bài viết của ông chỉ ra những đặc điểm về loại hình của các ngôn ngữ đơn lập ở khu vực, cũng như mối quan hệ cội nguồn giữa chúng.

Đó là mối quan hệ cội nguồn giữa các ngôn ngữ Tai - Kadai với nhau. Chẳng hạn, đó là mối quan hệ cội nguồn giữa tiếng La Ha với các ngôn ngữ trong chi Kadai (với tiếng La Chí, Cơ Lao, với các ngôn ngữ Pu Péo...), hay giữa tiếng La Ha với tiếng Thái, với các ngôn ngữ Nam Đảo, hay với các ngôn ngữ chi Môn - Khơ me thuộc ngữ hệ Nam Á.

Với những kiến thức về ngôn ngữ các dân tộc thiểu số được tích lũy sau nhiều năm công tác, ông đã tham gia viết cuốn Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và chính sách ngôn ngữ (1984, viết chung với Hoàng Tuệ và Nguyễn Văn Tài), một cuốn sách cẩm nang cho những người làm công tác nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam và Đông Nam Á.

Bên cạnh đó, PGS.TS Hoàng Văn Ma còn tham gia các chương trình nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc. Ông đã từng đi sâu nghiên cứu các ngôn ngữ Nam Đảo, các ngôn ngữ Hmông - Dao, Hán Tạng và viết nhiều bài nghiên cứu về các ngôn ngữ thuộc các ngữ hệ này.

vi giao su voi nhung cong hien cho nganh ngon ngu hoc

PGS. TS Hoàng Văn Ma luôn mong muốn mỗi dân tộc sẽ có một cuốn từ điển cho riêng mình để duy trì được nét văn hóa đặc sắc trong tổng hòa văn hóa chung của dân tộc.

Nói tiếng dân tộc thiểu số hàng ngày

Có thể nói trong cuộc đời nghiên cứu khoa học gắn bó với Viện Ngôn ngữ học và Phòng nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, những tư tưởng học thuật của ông đã có ảnh hưởng khá lớn đến công việc của phòng.

Với tư cách là trưởng phòng nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, ông không chỉ là người lãnh đạo về học thuật và tổ chức nghiên cứu mà còn góp phần định hướng nghiên cứu đối với công tác này ở Viện và phòng. Tuy đã nghỉ hưu được nhiều năm, song mối quan hệ của ông với Viện và Phòng Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số vẫn khăng khít như những ngày ông còn đang làm việc.

Ông vẫn thường xuyên tư vấn, giúp đỡ các cán bộ trẻ của Phòng định hướng những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về các ngôn ngữ dân tộc. Sống giữa đất Hà Nội, bao nhiêu năm nay, PGS. TS Hoàng Văn Ma và vợ mình vẫn nói chuyện với nhau bằng tiếng Tày như một nguyên tắc bất di bất dịch. Mấy đứa cháu lớn thỉnh thoảng lại hỏi: “Ông bà nói gì thế?”.

Trước sự hồn nhiên của những đứa trẻ, PGS Hoàng Văn Ma không giấu nổi tiếc nuối bởi ông đang chứng kiến sự mai một của không chỉ tiếng Tày mà cả nhiều thứ tiếng khác ông từng say mê, dày công nghiên cứu, mai một ngay trên mảnh đất là địa bàn sinh sống của chủ nhân thứ ngôn ngữ đó.

“Bọn trẻ ở quê muốn nói giỏi tiếng Kinh để đi kiếm tiền. Trong làng, bản chỉ còn người già nói chuyện bằng tiếng Tày thôi. Những từ chỉ quan hệ trong gia đình đã bị thay thế. Không ai còn gọi ông là pú, bác là lùng, cậu là khủ nữa. Lúc tôi nghiên cứu về tiếng Pu Péo, họ chỉ còn khoảng 50 gia đình. Không biết sau này tiếng của họ có mất đi không?” - giọng ông chợt trở nên xa xăm.

Cầm cuốn từ điển Tày - Nùng - Việt, PGS. TS Hoàng Văn Ma lật đi lật lại từng trang, lẩm nhẩm vài từ quen thuộc. Nụ cười ấm lên trên gương mặt ông: “Đây là cuốn sách tôi yêu quý nhất bởi nó lưu giữ tiếng mẹ đẻ của tôi. Lũ trẻ giờ nói giỏi tiếng Kinh là tốt, nhưng ở góc độ bảo tồn văn hóa thì ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng đang mai một đi. Có cuốn sách này, tiếng Tày được giữ lại, không bao giờ mất đi. Sau này ai quan tâm thì mở ra sẽ biết”.

Giờ đây, niềm vui của PGS Hoàng Văn Ma là thỉnh thoảng lại có người viết thư xin ông cuốn từ điển tiếng Tày - Nùng - Việt để phục vụ nghiên cứu, viết văn, làm thơ song ngữ; hay khi những người trẻ tuổi tới nhờ ông định hướng việc nghiên cứu tiếng Tày. Dù là bất cứ ai, ông cũng hết lòng giúp đỡ, hoặc tự mình đi mua từ điển để gửi tặng. Đó là cách ông giữ tiếng Tày ở lại.

PGS. TS Hoàng Văn Ma chia sẻ: “Tôi chẳng mong gì, chỉ mong mỗi dân tộc trên đất nước Việt Nam này có một cuốn từ điển cho riêng mình. Đó là sự bảo tồn nguồn cội của các dân tộc, bắt đầu từ tiếng nói. Đại ngàn bao la, ngôn ngữ của mỗi dân tộc vẫn còn dài rộng lắm” và đó là điều nguyện ước mà ông vẫn còn hết sức trăn trở.
Theo Pháp luật và XH

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh