Bạn đang xem: Trang chủ » Chính trị

Khẩn trương triển khai lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XIX

Thứ năm 28/05/2020 15:00

LTS: Thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Kế hoạch số 357-KH/TU, ngày 24/6/2019 của Tỉnh ủy về thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Sau một thời gian chuẩn bị rất nghiêm túc và trách nhiệm, đến nay, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã cơ bản đáp ứng yêu cầu đề ra.

Để tiếp tục bổ sung, hoàn thiện Dự thảo Báo cáo chính trị thật sự là kết tinh trí tuệ, tâm huyết của toàn Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cơ quan, địa phương, đơn vị triển khai lấy ý kiến đối với Dự thảo Báo cáo chính trị. Báo Cao Bằng đăng toàn văn Dự thảo Báo cáo chính trị để tuyên truyền, thông tin rộng rãi để nhân dân biết và tham gia ý kiến. Các ý kiến của nhân dân gửi về Báo Cao Bằng. Địa chỉ: Tổ 7, phường Sông Hiến, thành phố Cao Bằng. EMAIL: Bandoctulieubcb@gmail.com.

TỈNH ỦY CAO BẰNG

*

 

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Cao Bằng, ngày 12 tháng 5 năm 2020

DỰ THẢO BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XVIII

TẠI ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XIX

-----

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XIX là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, diễn ra vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn sau 35 năm đổi mới và đang chuẩn bị bước vào thập niên của chuyển đổi mạnh mẽ công nghệ số. Đại hội có nhiệm vụ kiểm điểm, đánh giá sâu sắc, toàn diện, đồng bộ tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020, quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2020 - 2025 và những năm tiếp theo; thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng; kiểm điểm công tác lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII; bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX và bầu đoàn đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Chủ đề của Đại hội là: Xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc trong tỉnh, huy động mọi nguồn lực, xây dựng Cao Bằng - nơi cội nguồn cách mạng phát triển nhanh và bền vững. Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt Đại hội XIX là: Đoàn kết - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển.

Phần thứ nhất

KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XVIII,

NHIỆM KỲ 2015 - 2020

I. Bối cảnh tình hình

Tình hình thế giới và trong nước kể từ sau Đại hội XII của Đảng và Đại hội XVIII của Đảng bộ tỉnh diễn biến nhanh chóng, có nhiều thời cơ, thuận lợi cùng với không ít những khó khăn, thách thức đan xen; đại dịch Covid-19 xảy ra tàn khốc chưa từng có trong lịch sử, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội thế giới cũng như ở Việt Nam.

Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đã nhận diện được những lợi thế cũng như bất lợi thế đối với sự phát triển của tỉnh cùng với những đột phát chiến lược.

Về lợi thế, Cao Bằng có 5 lợi thế chính đó là: (1) Cao Bằng là quê hương giàu truyền thống cách mạng, nhân dân Cao Bằng giàu lòng yêu nước, tuyệt đối trung thành với Đảng, đoàn kết, thông minh, sáng tạo; đội ngũ cán bộ có tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, thống nhất, đó là động lực to lớn cho phát triển bền vững của tỉnh; (2) Cao Bằng được thiên nhiên ưu ái ban tặng với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng của cả nước, nhiều di tích lịch sử quốc gia đặc biệt; có nền văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, Công viên địa chất Non nước Cao Bằng được UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu; (3) Cao Bằng là tỉnh có diện tích tự nhiên lớn (hơn 6.700 km2), khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi, tài nguyên phong phú, độ che phủ rừng trên 55%; mật độ dân số thấp, do vậy dư địa cho phát triển kinh tế còn rất lớn; (4) Có đường biên giới trên bộ dài trên 333 km tiếp giáp với thị trường lớn là nước bạn Trung Quốc, là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế cửa khẩu, thương mại quốc tế; (5) Lợi thế đi sau, có điều kiện học tập kinh nghiệm của các tỉnh, thành phố trong cả nước để phát huy những thành công cũng như tránh được sai lầm, thất bại để đi tắt, đón đầu, tăng tốc phát triển.

Về bất lợi thế, Cao Bằng đang tồn tại 03 điểm nghẽn, nút thắt: (1) Kết cấu hạ tầng như: hạ tầng giao thông, hạ tầng du lịch - dịch vụ, hạ tầng cửa khẩu, hạ tầng đô thị còn yếu và thiếu đồng bộ; (2) Chất lượng nguồn nhân lực thấp dẫn đến năng suất lao động rất thấp, sử dụng nguồn vốn chưa hiệu quả; (3) Cơ chế, chính sách của tỉnh chưa thông thoáng, hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư chiến lược; sự phối hợp giữa các ban, sở, ngành với các địa phương trong triển khai thực hiện nhiệm vụ chưa thực sự đồng bộ, nhịp nhàng, cản trở tới sự phát triển của tỉnh.

Về 03 đột phá chiến lược: (1) Khai thác, phát triển mạnh lợi thế du lịch, dịch vụ theo hướng bền vững; (2) Phát triển nông nghiệp thông minh và nông nghiệp theo hướng hàng hóa đặc sản gắn với chế biến; (3) Phát triển kinh tế cửa khẩu.

Tuy nhiên, Cao Bằng còn rất nhiều những khó khăn, cả chủ quan và khách quan đó là: Quy mô nền kinh tế của tỉnh còn nhỏ bé; hạ tầng kết nối giao thông, kinh tế - xã hội, hạ tầng đô thị, hạ tầng nông thôn... còn rất khó khăn; địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, khó khăn trong sản xuất, đất nông nghiệp chỉ chiếm gần 10% tổng diện tích tự nhiên; sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, tự cung, tự cấp vẫn là chủ yếu; sản xuất nông nghiệp chưa gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm; số doanh nghiệp ít, lại siêu nhỏ; đồng bào dân tộc chiếm hơn 95% dân số, dân cư sống phân tán, không tập trung, chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động rất thấp; trình độ văn hóa, học vấn không đồng đều, thu nhập bình quân đầu người thấp so với mặt bằng chung của cả nước; tỉ lệ hộ nghèo, cận nghèo và tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn cao; ngân sách nhà nước cấp chiếm đến hơn 70% là dành cho chi thường xuyên. Trình độ, năng lực, trách nhiệm của không ít cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu làm việc trong môi trường liên kết, hội nhập; một bộ phận người dân vẫn còn tư tưởng chịu khổ hơn chịu khó, trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước... là những rào cản tới sự phát triển của tỉnh. 

II. Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII

1. Phát triển kinh tế

1.1. Kinh tế phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng đạt khá; ba đột phá chiến lược về phát triển du lịch - dịch vụ; nông nghiệp thông minh và nông nghiệp theo hướng hàng hóa đặc sản gắn với chế biến; kinh tế cửa khẩu được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, cụ thể và đạt được nhiều kết quả quan trọng

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt bình quân trên 7,0%/năm, bằng 100% mục tiêu Nghị quyết Đại hội; cơ cấu kinh tế dịch vụ - nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng tiếp tục chuyển dịch theo đúng định hướng: tăng dần tỉ trọng công nghiệp, xây dựng, giảm dần tỉ trọng nông nghiệp (công nghiệp, xây dựng chiếm tỉ trọng 26%, tăng 7,73%; dịch vụ chiếm tỉ trọng 49,7%, tăng 1,75%; nông nghiệp chiếm tỉ trọng 21,5%, giảm 7,74%); thu nhập bình quân đầu người đạt 37,2 triệu đồng/người, vượt 11% mục tiêu Nghị quyết Đại hội.

Chương trình phát triển du lịch giai đoạn 2016 - 2020 được triển khai thực hiện có hiệu quả. Cơ sở hạ tầng du lịch, dịch vụ được quan tâm đầu tư, nâng cấp; lượng khách, doanh thu và tăng trưởng du lịch có sự phát triển vượt bậc. Ban hành và triển khai thực hiện Đề án tổng thể về phát triển du lịch, dịch vụ. Di tích lịch sử địa điểm Chiến thắng Biên giới 1950 huyện Thạch An được xếp hạng là Di tích Quốc gia đặc biệt; Công viên địa chất Non nước Cao Bằng được UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu. Ba di tích Quốc gia đặc biệt được quản lý và khai thác có hiệu quả. Các loại hình du lịch: du lịch lịch sử - văn hóa, du lịch cộng đồng, du lịch tâm linh, du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm... phát triển đa dạng, phong phú; hệ thống dịch vụ nhà hàng, khách sạn được mở rộng, từng bước đáp ứng nhu cầu phục vụ du khách. Công tác phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch được chú trọng; tổ chức nhiều lớp tập huấn nâng cao nhận thức về Công viên địa chất, nghiệp vụ và quản lý cơ sở lưu trú du lịch, hướng dẫn viên du lịch cho 3.200 lượt người. Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch được tăng cường, lượng khách du lịch đến Cao Bằng tăng trung bình 18,7%/năm, năm 2020 đạt trên 1,3 triệu lượt khách, trong đó lượng khách quốc tế chiếm 13%; doanh thu du lịch đạt 400 tỷ đồng, tăng 246,3% so với năm 2015, tăng trưởng du lịch bình quân đạt 24,5%/năm. Thu hút được nhiều nhà đầu tư chiến lược như: Công ty cổ phần Tập đoàn Sun Group, Tập đoàn FLC, Công ty Cổ phần du lịch Tây Bắc Việt… đến nghiên cứu đầu tư tại các khu, điểm du lịch: Khu du lịch thác Bản Giốc, Vườn quốc gia Phja Oắc - Phja Đén; động Ngườm Pục, Ngườm Ngao...

Tích cực triển khai Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch thác Bản Giốc (Việt Nam) - Đức Thiên (Trung Quốc): mở lối mở biên giới; hoàn thành đấu nối giao thông, xây dựng trạm kiểm tra, kiểm soát tại khu vực lối mở; thống nhất với Trung Quốc về phương án quản lý biên giới… và tổ chức thí điểm đưa khách du lịch qua lại Khu cảnh quan thác Bản Giốc (Việt Nam) - Đức Thiên (Trung Quốc).

Sản xuất nông, lâm nghiệp có bước tăng trưởng khá, bình quân tăng 2,6%/năm; tổng sản lượng lương thực đạt 274 ngàn tấn, vượt 3,4% mục tiêu Nghị quyết Đại hội; giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 40 triệu đồng/ha, đạt 100% mục tiêu Nghị quyết Đại hội, trong đó: hơn 6.000 ha đạt trên 50 triệu đồng/ha. Một số vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung: cây thuốc lá, hồi, miến dong, chanh leo, quýt, hạt dẻ, thạch đen... tiếp tục được mở rộng quy mô, diện tích, đem lại thu nhập ổn định cho người nông dân.

Giá trị sản lượng ngành chăn nuôi tăng trên 6%/năm; kinh tế trang trại, gia trại tiếp tục phát triển; một số sản phẩm được xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ như thịt bò, lợn đen... Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được tăng cường, tỉ lệ độ che phủ rừng đạt 55%, vượt 2% mục tiêu Nghị quyết Đại hội. Thu hút được 43 dự án đăng ký đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn với tổng số vốn đăng ký đầu tư 6.259 tỷ đồng, trong đó Dự án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa công nghệ cao tại huyện Quảng Hòa có tổng vốn đầu tư trên 4.300 tỷ đồng.

Chương trình tái cơ cấu Nông nghiệp gắn với xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 được triển khai đồng bộ, đời sống người dân khu vực nông thôn được cải thiện, diện mạo nông thôn có nhiều đổi mới. Ban hành và triển khai thực hiện Đề án nông nghiệp thông minh, giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn 2030. Cơ cấu lĩnh vực nông nghiệp chuyển dịch tích cực, giảm dần tỉ trọng ngành trồng trọt, tăng dần tỉ trọng ngành chăn nuôi, trong đó: trồng trọt chiếm 56% (giảm 2,3%); chăn nuôi 32,3% (tăng 2%); dịch vụ nông nghiệp 2,8% (tăng 1%); lâm nghiệp 8,6% (tăng 0,8%); thủy sản 03,% (tăng 0,1%). Đến nay, 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã và đi lại được 04 mùa; 100% xã có điện lưới đến trung tâm; 100% trạm y tế có bác sĩ. Huy động được nhiều nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới với tổng nguồn vốn gần 7.800 tỷ đồng; đến nay, có 25 xã đạt tiêu chí nông thôn mới, tăng 23 xã so với nhiệm kỳ 2010 - 2015, vượt 25% mục tiêu Nghị quyết Đại hội, bình quân đạt 12 tiêu chí/xã, tăng 5,5 tiêu chí/xã so với năm 2015; thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 17 triệu đồng/năm, tăng 8,7 triệu đồng/người so với năm 2015. Công tác di dời gia súc ra khỏi gầm sàn nhà ở được quan tâm chỉ đạo quyết liệt, có 14.870 hộ chăn nuôi đưa gia súc ra khỏi gầm sàn nhà, vượt 15,3% mục tiêu Nghị quyết Đại hội.

Tích cực triển khai Chương trình phát triển kinh tế đối ngoại giai đoạn 2016 - 2020. Hạ tầng các khu kinh tế cửa khẩu, trọng tâm là cửa khẩu Tà Lùng và Trà Lĩnh tiếp tục được quan tâm đầu tư và hoàn thiện, cửa khẩu Trà Lĩnh trở thành cửa khẩu quốc tế.

Đề án tổng thể phát triển khu kinh tế cửa khẩu Cao Bằng được triển khai hiệu quả; xây dựng Đồ án Quy hoạch chung Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050; xây dựng các cơ chế, chính sách về phát triển kinh tế cửa khẩu và cơ chế phối hợp quản lý nhà nước giữa các địa phương, đơn vị trong khu kinh tế cửa khẩu. Cơ sở hạ tầng khu vực cửa khẩu được quan tâm đầu tư, nâng cấp; triển khai 17 dự án với tổng vốn đầu tư 1.090 tỷ đồng, trong đó có 12 dự án đã hoàn thành, đưa vào sử dụng, 05 dự án đang thực hiện. Triển khai thực hiện 08 dự án bố trí dân cư biên giới cho 68 hộ với tổng số vốn đầu tư trên 150 tỷ đồng, góp phần hạn chế di cư tự do, tạo việc làm, ổn định cuộc sống, giữ vững an ninh trật tự khu vực biên giới.

Chủ động phối hợp với Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc triển khai xây dựng cầu đường bộ Tà Lùng - Thủy Khẩu 2; nâng cấp cặp cửa khẩu Trà Lĩnh (Việt Nam) - Long Bang (Trung Quốc) lên cửa khẩu quốc tế; mở lối mở Nà Đoỏng - Nà Ráy thuộc phạm vi cửa khẩu Trà Lĩnh - Long Bang; mở lối mở mốc 834 khu vực thác Bản Giốc (Việt Nam) - Đức Thiên (Trung Quốc); nghiên cứu, đề xuất với Chính phủ hai nước Việt Nam, Trung Quốc nâng cấp cặp cửa khẩu Lý Vạn (Việt Nam) - Thạc Long (Trung Quốc) lên cửa khẩu quốc tế và mở rộng phạm vi đến lối mở Bản Khoòng - Nham Ứng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biên mậu, du lịch.

Khu kinh tế cửa khẩu đã thu hút được 73 dự án đầu tư trong và ngoài nước, trong đó có 9 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký là 37,8 triệu USD và 64 dự án đầu tư của nhà đầu tư trong nước với tổng số vốn đăng ký đầu tư trên 14.000 tỷ đồng; có 35 dự án đi vào hoạt động tạo nhiều công ăn việc làm và góp phần hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế cửa khẩu. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa qua địa bàn hàng năm tăng cao, năm 2020 đạt 3 tỷ USD, tăng 96,5% so với năm 2015, bình quân tăng 13%/năm, bằng 130% mục tiêu Nghị quyết Đại hội. Thu ngân sách từ thuế xuất nhập khẩu và phí sử dụng hạ tầng cửa khẩu trong giai đoạn 2016 - 2020 đạt trên 2.400 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng khá trong tổng thu ngân sách của tỉnh.

1.2. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có sự phục hồi và tăng trưởng khá; hệ thống thương mại được mở rộng, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân

Rà soát lại quy hoạch thủy điện nhỏ, đưa ra khỏi Quy hoạch 12 dự án không đủ điều kiện thực hiện; quản lý chặt chẽ việc thực hiện các dự án thủy điện, chỉ cho phép nghiên cứu, triển khai các dự án thủy điện có công suất lắp máy từ 10MW trở lên; cấp giấy chứng nhận đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư mới cho 14 dự án thủy điện, thu hồi 15 giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án không khả thi hoặc tiến độ triển khai chậm. Giai đoạn 2015 - 2020 có 10 dự án thủy điện hoàn thành và đi vào hoạt động (thủy điện Bảo Lâm 1, Bảo Lâm 3, Bảo Lâm 3a, Thân Giáp, Hòa Thuận, Mông Ân, Khuổi Luông, Bảo Lạc B, Bạch Đằng, Tiên Thành) với tổng công suất lắp máy 170MW, chiếm 81% tổng công suất lắp máy của các nhà máy thủy điện đang phát điện trên địa bàn toàn tỉnh. Đến nay, 89,19% hộ gia đình được sử dụng điện lưới Quốc gia. Hoạt động của một số nhà máy chế biến khoáng sản tiếp tục được duy trì; Nhà máy liên hợp gang thép Cao Bằng được đầu tư hoàn thiện và hoạt động ổn định với công suất 220.000 tấn/năm. Toàn tỉnh có trên 1.700 cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2020 (giá so sánh năm 2010) đạt 4.680 tỷ đồng, bình quân hằng năm tăng 30,77%/năm, gấp 4,23 lần so với năm 2015.

Các dịch vụ vận tải, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn, siêu thị phát triển nhanh, cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển. Hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư thương mại được quan tâm chỉ đạo thực hiện; công tác phòng, chống buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại được quan tâm. Thương mại nội địa ngày càng phong phú, đa dạng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh tăng bình quân 9,56%/năm. Hệ thống phân phối bán lẻ cơ bản cung ứng đầy đủ, kịp thời các mặt hàng, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.

1.3. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng đô thị được quan tâm đầu tư, nâng cấp; Dự án đường bộ cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Trà Lĩnh (Cao Bằng) được nghiên cứu và thực hiện thủ tục đầu tư

Công tác quy hoạch được triển khai đồng bộ, hiệu quả, phù hợp với quy hoạch chung của cả nước và nguồn lực đầu tư của địa phương. Điều chỉnh tổng thể quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2025, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các huyện, thành phố. Triển khai lập quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Ban hành 14 chương trình phát triển đô thị của tỉnh và các huyện, thành phố. Các dự án phát triển đô thị được triển khai tích cực với nhiều hình thức đầu tư như: Đối tác công - tư (PPP), hình thức dự án có sử dụng đất, hình thức đấu giá tài sản trên đất và quyền sử dụng đất tập trung.

Huy động các nguồn lực xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng, chỉnh trang đô thị. Việc bố trí kế hoạch, phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản đảm bảo công khai, đúng quy định, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, nợ đọng xây dựng cơ bản, tập trung đầu tư các công trình, dự án trọng điểm để tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội. Hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều công trình trọng điểm: Dự án đường phía Nam, thành phố Cao Bằng rộng 58m với quy mô 10 làn xe; Trụ sở làm việc khối các cơ quan Đảng tỉnh; Trụ sở làm việc khối các cơ quan Đoàn thể tỉnh; tuyến phố đi bộ, Chợ đêm ẩm thực thành phố Cao Bằng; Khách sạn Pác Bó; Kè bờ sông Bằng, sông Hiến; hồ Khuổi Khoán... Hệ thống đường giao thông, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, vườn hoa, cây xanh thành phố Cao Bằng được quan tâm đầu tư, chỉnh trang, nâng cấp. Công tác quản lý, xây dựng nếp sống văn minh đô thị được chú trọng và có nhiều chuyển biến tích cực.

Chương trình phát triển hạ tầng giao thông giai đoạn 2016 - 2020 và Đề án kết nối giao thông các điểm, khu du lịch, cửa khẩu trên địa bàn tỉnh được triển khai có hiệu quả. Các tuyến đường tỉnh cơ bản được cải tạo, nâng cấp tạo thuận lợi trong việc vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân đến trung tâm các huyện và các cửa khẩu trong tỉnh. Hoàn thành cải tạo, nâng cấp và triển khai xây dựng một số đoạn của đường tỉnh 206, 207, 208, 210, 211, 213, 216; đường giao thông liên xã Chí Thảo - Tự Do - Ngọc Động - Hoàng Hải - Hạnh Phúc, huyện Quảng Hòa; cầu và đường dẫn Tà Lùng - Nà Thắm, xã Mỹ Hưng, huyện Quảng Hòa và đoạn nối Đức Long, huyện Thạch An - Tà Lùng, huyện Quảng Hòa; cải tạo, nâng cấp đường thị trấn Trà Lĩnh - Đôn Chương (thuộc Quốc lộ 4A); đường giao thông từ Quốc lộ 34, xã Phan Thanh - Khu du lịch Phja Oắc, Phja Đén, xã Thành Công - xã Hưng Đạo, huyện Nguyên Bình; đường từ trung tâm xã Thị Hoa đến cửa khẩu Hạ Lang. Trong nhiệm kỳ, xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp 166 km đường tỉnh, 478 km đường huyện, 2.077 km đường xã, đường xóm; xây dựng mới 36 cầu treo dân sinh; có 300,24 km đường tỉnh được nâng thành Quốc lộ.

Dự án đường bộ cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Trà Lĩnh (Cao Bằng) theo hình thức đối tác công - tư (PPP) với tổng vốn đầu tư trên 21.000 tỷ đồng (vốn ngân sách Trung ương 20%, vốn ngân sách địa phương 20%, nhà đầu tư 60%) được tập trung chỉ đạo quyết tâm, quyết liệt; chưa đầy 02 năm (từ khi đề xuất và được Thủ tướng Chính phủ nhất trí chủ trương đầu tư và điều chỉnh tiến độ đầu tư Dự án từ quy hoạch thực hiện sau năm 2030 chuyển sang đầu tư trong giai đoạn 2019 - 2025, giao Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và chủ đầu tư giai đoạn chuẩn bị Dự án), đến nay đã hoàn thiện xong các thủ tục hồ sơ và chuẩn bị triển khai thi công Dự án.

1.4. Công tác thu ngân sách nhà nước được tập trung chỉ đạo quyết liệt và đạt tăng trưởng cao; môi trường đầu tư kinh doanh, các hoạt động tín dụng và huy động vốn đầu tư toàn xã hội có chuyển biến tích cực

Tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2015 - 2020 đạt trên 9.200 tỷ đồng, tăng gấp 1,7 lần so với tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2011 - 2015, trong đó thu nội địa tăng gấp 1,8 lần. Năm 2020, thu ngân sách nhà nước đạt trên 2.000 tỷ đồng, tăng 43% so với năm 2015, hằng năm tăng bình quân 11%, bằng 110% mục tiêu Nghị quyết Đại hội, trong đó: Thu nội địa chiếm tỉ trọng 86,4% tổng thu ngân sách. Chi ngân sách nhà nước được kiểm soát chặt chẽ đảm bảo đúng quy định, tăng bình quân 9,17%/năm.

Hoạt động của các tổ chức tín dụng được duy trì ổn định và phát triển, các dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng, chất lượng được nâng cao, cơ bản đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng bình quân đạt trên 14%/năm. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân tăng 10%/năm, đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội; năm 2020 đạt trên 11.140 tỷ đồng, tăng 62% so với năm 2015. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tăng 6 bậc so với năm 2015.

Tổ chức triển khai có hiệu quả Chương trình định hướng và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và hợp tác xã giai đoạn 2016 - 2020. Hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động hiệu quả, đóng góp cho nguồn thu ngân sách, tạo nhiều việc làm cho lao động địa phương. Thành lập mới 684 doanh nghiệp, 141 hợp tác xã, đến nay toàn tỉnh có 1.650 doanh nghiệp với số vốn đăng ký trên 20.000 tỷ đồng và 356 hợp tác xã với số vốn đăng ký trên 500 tỷ đồng; giai đoạn 2016 - 2020, các doanh nghiệp, hợp tác xã đóng góp cho ngân sách nhà nước trên 3.300 tỷ đồng, tăng 136% so với giai đoạn 2011 - 2015, tăng bình quân gần 10%/năm. Các hoạt động xúc tiến, mời gọi đầu tư được đẩy mạnh, tổ chức thành công Hội nghị xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch tỉnh Cao Bằng năm 2018, qua đó, thu hút nhiều nhà đầu tư chiến lược đăng ký đầu tư nhiều dự án lớn với tổng mức đầu tư trên 33.000 tỷ đồng. Toàn tỉnh có gần 300 dự án được triển khai với tổng vốn đăng ký trên 72.000 tỷ đồng.

1.5. Công tác quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ được chú trọng

Hoàn thiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 - 2020) tỉnh Cao Bằng; điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch năm đầu của điều chỉnh quy hoạch cấp huyện của các huyện, thành phố; hoàn thành bảng giá các loại đất giai đoạn 2020 - 2024 trên địa bàn tỉnh. Rà soát, lập quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2016 - 2020, có xét đến 2030; quy hoạch vùng cấm và tạm cấm hoạt động khoáng sản; quản lý chặt chẽ việc triển khai các dự án trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng; thực hiện tốt công tác giải quyết thủ tục hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động khoáng sản theo quy định. Tăng cường kiểm tra, xử lý các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép gây ô nhiễm môi trường, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định.

Hệ thống cấp nước sạch cho các trung tâm thị trấn của các huyện trong tỉnh và các công trình cấp nước sinh hoạt cho khu vực nông thôn được quan tâm đầu tư, tình trạng thiếu nước sinh hoạt ở vùng cao, núi đá được cải thiện đáng kể; đến hết năm 2020, 95% dân cư thành thị được dùng nước sạch,  90% dân cư nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh, đạt 100% mục tiêu Nghị quyết Đại hội.

Công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào đời sống, sản xuất được coi trọng, một số đề tài, dự án và nghiên cứu thử nghiệm, ứng dụng bước đầu mang lại hiệu quả; đã phê duyệt 44 đề tài, dự án, nghiệm thu 46 đề tài, dự án; đưa vào ứng dụng trong thực tế 36 đề tài, dự án. Công tác quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, chống hàng giả, hàng kém chất lượng, xác lập, đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp được quan tâm thực hiện. Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, đặc biệt là với Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc được duy trì và có bước phát triển.

2. Văn hóa - xã hội

2.1. Các hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao được đẩy mạnh với nhiều hình thức đa dạng, phong phú góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân; bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và truyền thông  tiếp tục có bước phát triển

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với xây dựng nông thôn mới tiếp tục được triển khai sâu rộng, hiệu quả, các chỉ tiêu về văn hóa hằng năm đều đạt và vượt kế hoạch đề ra. Toàn tỉnh có 85% hộ gia đình, 55% làng, xóm, tổ dân phố, 95% cơ quan đạt tiêu chuẩn văn hóa; 80,7% xóm có nhà văn hóa, đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội. Phong trào thể dục, thể thao phát triển rộng khắp, công tác đào tạo vận động viên năng khiếu, tuyển chọn, tập huấn đội tuyển tham dự các giải khu vực, toàn quốc được quan tâm và đạt một số thành tích cao. Tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao toàn tỉnh lần thứ VIII năm 2018.

Công tác bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh trọng điểm được chú trọng. Toàn tỉnh hiện có 03 di tích được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt, 23 di tích xếp hạng cấp Quốc gia, 66 di tích xếp hạng cấp tỉnh. Lễ hội Nàng Hai (xã Tiên Thành, huyện Quảng Hòa); Nghề rèn truyền thống của người Nùng An (xã Phúc Sen, huyện Quảng Hòa) được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia; Đôi chuông chùa Viên Minh, Đền Quan Triều (xã Hưng Đạo, Thành phố Cao Bằng) và Bia Ma nhai Ngự chế (xã Bình Long, huyện Hòa An) được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật Quốc gia. Tổ chức thành công nhiều sự kiện chính trị, xã hội quan trọng, nổi bật là: Lễ đón nhận danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng; công bố Di tích lịch sử Địa điểm Chiến thắng Biên giới năm 1950, huyện Thạch An là Di tích quốc gia đặc biệt gắn với Chương trình Du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc”; Liên hoan ca múa nhạc toàn quốc năm 2018 tại tỉnh Cao Bằng; Lễ kỷ niệm 520 năm thành lập tỉnh (1499 - 2019), 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2019); Cuộc thi Người đẹp du lịch Non nước Cao Bằng; Lễ hội Ánh sáng thác Bản Giốc... góp phần tăng cường quảng bá, giới thiệu tiềm năng, thế mạnh, hình ảnh quê hương và con người Cao Bằng đến bạn bè, du khách trong nước và quốc tế.

Bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và truyền thông, báo chí, phát thanh, truyền hình tiếp tục phát triển mạnh, đáp ứng được yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh và nhu cầu thông tin của nhân dân; 100% xã được phủ sóng điện thoại di động 3G, 4G và có cáp quang đến xã, mật độ điện thoại đạt 98 thuê bao/100 dân; 70 xã có đài phát thanh và hệ thống loa đến các xóm bản; 151 điểm bưu điện văn hóa xã; 177 bưu cục và điểm phục vụ bưu điện; dịch vụ bưu chính công ích được tích cực triển khai. Hệ thống hội nghị truyền hình được đầu tư, trang bị, đáp ứng nhu cầu chỉ đạo, điều hành trực tuyến từ tỉnh đến huyện. Ứng dụng công nghệ thông tin được đẩy mạnh; phát triển chính quyền điện tử, an toàn và an ninh thông tin được chú trọng; hệ thống quản lý văn bản điều hành iOffice được triển khai liên thông đến cấp xã; hoàn thành Cổng dịch vụ công trực tuyến và một cửa điện tử... góp phần cải cách hành chính, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp.

2.2. Công tác giáo dục - đào tạo được quan tâm chỉ đạo theo hướng đổi mới căn bản và toàn diện góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Tiến hành rà soát, sắp xếp lại mạng lưới trường, lớp học phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; toàn tỉnh có 531 trường mầm non và phổ thông, 834 điểm trường, 01 trung tâm giáo dục thường xuyên, 01 trường cao đẳng sư phạm, 12 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên (giảm 131 trường học, 02 trung tâm trực thuộc, 160 điểm trường). Duy trì, giữ vững kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 1 và đạt chuẩn phổ cập, xóa mù chữ mức độ 1; 100% các xã trên địa bàn tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2, bằng 285,7% mục tiêu Nghị quyết Đại hội. Cơ sở vật chất trường, lớp học được tăng cường đầu tư xây dựng theo hướng kiên cố hóa, hiện đại hóa; trang thiết bị dạy học được bổ sung thường xuyên cơ bản đáp ứng được yêu cầu dạy, học. Xây dựng được 86 trường đạt chuẩn quốc gia, vượt 32,3% mục tiêu Nghị quyết Đại hội, đến nay toàn tỉnh có 167 trường đạt chuẩn quốc gia. Đội ngũ nhà giáo cơ bản đảm bảo đủ về số lượng, đạt chuẩn về trình độ đào tạo theo quy định. Chất lượng giáo dục được duy trì, ổn định, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp hệ trung học phổ thông hằng năm đạt trên 90%.

2.3. Mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở thường xuyên được quan tâm củng cố; công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số, kế hoạch hóa gia đình từng bước nâng cao về chất lượng

Các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện được cải tạo, nâng cấp, đầu tư trang thiết bị theo hướng hiện đại; hình thành thêm nhiều cơ sở y tế tư nhân, đa dạng hóa các loại hình khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Tiếp nhận chuyển giao thành công nhiều tiến bộ y học mới, các kỹ thuật cao thuộc lĩnh vực chuyên khoa sâu. Tăng cường công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành y tế; toàn tỉnh có 15 bác sĩ/vạn dân, đạt 100% mục tiêu Nghị quyết Đại hội; 100/161 xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã, vượt 3,5% mục tiêu Nghị quyết Đại hội. Chương trình mục tiêu về y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình được triển khai có hiệu quả; tỉ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 98,17%, vượt 2,17% mục tiêu Nghị quyết Đại hội; 100% trạm y tế cấp xã thực hiện khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận, sử dụng dịch vụ y tế tại cơ sở; tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 19,9% năm 2015 xuống còn 16,6% năm 2020; tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 0,91% năm 2015 xuống còn 0,88% năm 2020, đạt 100% mục tiêu Nghị quyết Đại hội. Chủ động kiểm soát, phòng chống dịch bệnh; triển khai quyết liệt, hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

2.4. Công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo, chăm sóc người có công, đảm bảo an sinh xã hội được thực hiện tốt, huy động được sự tham gia của toàn xã hội. Công tác dân tộc, chính sách dân tộc được quan tâm thực hiện, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh tiếp tục được cải thiện và nâng cao

Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm được chú trọng; thực hiện rà soát, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn; đã đào tạo nghề cho 29.500 người, trong đó đào tạo nghề cho lao động nông thôn 7.770 người, nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo từ 34% (năm 2015) lên 45% (năm 2020), trong đó nâng tỉ lệ đào tạo nghề từ 25,5% (năm 2015) lên 33% (năm 2020) đạt 100% mục tiêu Nghị quyết Đại hội; tạo việc làm cho 60.000 lao động, trong đó có trên 800 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống 3,6%.

Các chính sách, dự án Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững như: Chương trình 30a, Chương trình 135 và hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, nhân rộng mô hình giảm nghèo... được triển khai đồng bộ, có hiệu quả, tỉ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm giảm 4,12%/năm (từ 42,53% đầu năm 2016 giảm xuống còn 22,07% vào cuối năm 2020) với trên 30.000 hộ thoát nghèo, bằng 206% mục tiêu Nghị quyết Đại hội.

Công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp được quan tâm đẩy mạnh, có khoảng 50.000 người tham gia bảo hiểm xã hội, chiếm trên 16% lực lượng lao động trong độ tuổi và 28.900 người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, chiếm khoảng 10% lực lượng lao động trong độ tuổi; tích cực triển khai các biện pháp tăng cường tuân thủ pháp luật về lao động, an toàn vệ sinh lao động, thúc đẩy quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ chính sách ưu đãi đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng. Công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ, bảo vệ, chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và phòng chống tệ nạn xã hội được quan tâm thực hiện có hiệu quả; công tác cứu trợ xã hội, khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra đảm bảo kịp thời.

Công tác dân tộc, chính sách dân tộc được triển khai thực hiện có hiệu quả, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc không ngừng được cải thiện và nâng cao. Đầu tư 970 công trình hạ tầng cơ sở nông thôn; hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo cho trên 34.000 hộ nghèo, cận nghèo; thực hiện định canh, định cư cho 96 hộ; hỗ trợ đời sống trên 880.000 lượt nhân khẩu; 7.423 hộ nghèo được vay vốn ưu đãi để sản xuất và chuyển đổi ngành nghề; 7.396 hộ gia đình được cấp lu, bể nước sinh hoạt; cấp miễn phí trên 4,3 triệu tờ báo, tạp chí cho các đối tượng; tổ chức tập huấn, nâng cao năng lực với trên 16.000 lượt người tham gia.

Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo được tăng cường; chủ động nắm tình hình, hướng dẫn, tạo điều kiện để các tôn giáo hoạt động theo đúng quy định; kiên quyết đấu tranh với các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc.

3. Quốc phòng - an ninh, đối ngoại

3.1. Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân được xây dựng, củng cố, ngày càng vững mạnh; bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia

Chú trọng kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng - an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Lực lượng vũ trang địa phương được quan tâm xây dựng vững mạnh về mọi mặt, phát huy vai trò nòng cốt tham mưu cho cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh. Làm tốt công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng theo phân cấp. Phối hợp với Bộ Quốc phòng tổ chức thành công Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 5 tại tỉnh. Chỉ đạo tổ chức tốt diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh năm 2016; diễn tập khu vực phòng thủ ở 100% cấp huyện, cấp xã theo kế hoạch hằng năm. Phong trào “Quần chúng tham gia tự quản đường biên mốc quốc giới, an ninh trật tự xóm bản khu vực biên giới, “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới” được triển khai có hiệu quả. Công tác đối ngoại nhân dân hai bên biên giới tiếp tục được duy trì; tình hình biên giới trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định; các cấp, các ngành triển khai quản lý, bảo vệ biên giới theo 03 văn kiện pháp lý về biên giới và các biên bản thỏa thuận của Ủy ban liên hợp biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc; phát hiện, xử lý, giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh trên biên giới.

3.2. An ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo

Chỉ đạo thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, các hành vi vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh trật tự trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Xây dựng và triển khai các phương án bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, các sự kiện chính trị quan trọng trên địa bàn. Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” được đẩy mạnh; hiệu lực quản lý nhà nước về an ninh trật tự được tăng cường; công tác đảm bảo an toàn giao thông đạt mục tiêu ba giảm. Xây dựng Đề án và hoàn thành việc bố trí Công an chính quy tại 100% xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh. Đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả hoạt động của tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình và các thế lực thù địch.

3.3. Công tác đối ngoại được quan tâm thực hiện, quan hệ hợp tác hữu nghị giữa tỉnh Cao Bằng với các tổ chức, địa phương trong và ngoài nước tiếp tục được mở rộng

Công tác đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân được triển khai đồng bộ; quan hệ hợp tác với các địa phương của các nước, và các tổ chức nước ngoài được tăng cường, thu hút được nhiều nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Mối quan hệ hợp tác giữa tỉnh Cao Bằng (Việt Nam) với Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây (Trung Quốc) tiếp tục được củng cố theo hướng toàn diện, hiệu quả thiết thực, đồng thời tích cực mở rộng quan hệ hợp tác với các tỉnh, thành khác của Trung Quốc; tổ chức gặp gỡ, giao lưu, hội đàm, hội thảo cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, thị trấn, kết nghĩa cụm dân cư xóm - bản hai Bên biên giới và triển khai các thỏa thuận đã ký kết giữa hai Bên về phát triển kinh tế, du lịch, văn hóa, đào tạo cán bộ và hợp tác lao động. Đã thu hút được 15 dự án FDI, 09 dự án ODA với tổng số vốn đầu tư 1.455,2 tỷ đồng; 37 dự án của 21 tổ chức Phi chính phủ nước ngoài với tổng giá trị viện trợ 2,86 triệu USD.

Quan hệ phối hợp công tác, liên kết, học hỏi kinh nghiệm để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội giữa Cao Bằng với các tỉnh trong khu vực và một số tỉnh, thành khác trong nước được quan tâm thúc đẩy.

4. Công tác xây dựng Đảng

4.1. Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng được chú trọng và tăng cường trên cơ sở kiên định Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng tiếp tục được khẳng định

Công tác nghiên cứu, học tập, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng có nhiều đổi mới. Xây dựng và triển khai thực hiện tốt 03 đề án trên lĩnh vực tuyên truyền, giáo dục: (1) Đề án đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác học tập, quán triệt, tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết của Đảng giai đoạn 2017- 2020; (2) Đề án đổi mới nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, điều tra, nắm bắt, định hướng dư luận xã hội phục vụ cho công tác lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp giai đoạn 2017 - 2020; (3) Đề án đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng trên quê hương Cao Bằng giai đoạn 2019 - 2025, qua đó đã tạo sự thống nhất nhận thức từ tỉnh đến cơ sở, sự đồng thuận trong việc cụ thể hóa, đưa các nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống; đặc biệt, Đề án đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng trên quê hương Cao Bằng đã góp phần làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy được những tiềm năng, lợi thế; tự hào về quê hương cách mạng, vững tin theo Đảng, có trách nhiệm đối với đất nước, với tỉnh và với nhân dân các dân tộc; thay đổi tư duy, quyết tâm, quyết liệt, sáng tạo, đoàn kết, chung tay, góp sức đưa Cao Bằng phát triển.

Chú trọng công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng để cụ thể hóa vào tình hình thực tiễn địa phương; số lượng, chất lượng các chương trình, đề án, đề tài nghiên cứu khoa học được nâng lên. Công tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên được quan tâm; nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục được đổi mới, cán bộ, đảng viên được cung cấp kiến thức, phương pháp tư duy khoa học, có hệ thống góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; làm tốt công tác định hướng các hoạt động thông tin báo chí, xuất bản, tuyên truyền các ngày lễ, kỷ niệm các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa nổi bật của đất nước và của tỉnh. Tổ chức thành công Hội thảo khoa học và Lễ kỷ niệm 115 năm Ngày sinh đồng chí Hoàng Đình Giong - lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam (1904 - 2019); các hoạt động kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tỉnh Cao Bằng (01/4/1930 - 01/4/2020). Nghiên cứu, bổ sung, chỉnh lý và xuất bản Cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (1930 - 2020)”.

Chủ động xây dựng Kế hoạch và tổ chức thực hiện có hiệu quả nội dung đột phá thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về "Chủ động, trách nhiệm; nói đi đôi với làm; chống tư tưởng trông chờ, ỷ lại” học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2015 - 2020; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kết quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Việc thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương, tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp đạt được những kết quả khả quan; việc nêu gương người tốt, việc tốt được chú trọng; nhiều mô hình, cách làm sáng tạo đã được thực hiện; tạo chuyển biến về nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên, nhân dân; ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng đã góp phần quan trọng tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong toàn Đảng bộ; củng cố niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; chung tay, góp sức giữ vững ổn định chính trị, xây dựng Cao Bằng trở thành tỉnh năng động, phát triển.

4.2. Công tác tổ chức cán bộ có nhiều đổi mới, tạo chuyển biến rõ nét và đạt được những kết quả quan trọng về kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng đảng viên được nâng lên

Tập trung sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng 18 đề án thực hiện Nghị quyết số 18, 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và tập trung chỉ đạo triển khai theo kế hoạch: (1) Đề án sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn hoạt động hiệu lực, hiệu quả các cơ quan khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh; (2) Đề án sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn hoạt động hiệu lực, hiệu quả đối với các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện; (3) Đề án sắp xếp lại tổ chức, bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập khối chính quyền; (4) Đề án sắp xếp, kiện toàn đối với những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và xóm, tổ dân phố; (5) Đề án sắp xếp, sáp nhập xóm, tổ dân phố giai đoạn 2019 - 2021; (6) Đề án tổ chức lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2019 - 2021; (7) Đề án hợp nhất Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh và Đảng bộ Khối doanh nghiệp tỉnh thành Đảng bộ khối cơ quan và doanh nghiệp tỉnh; (8) 03 Đề án về sáp nhập Đảng bộ huyện; (9) Đề án thí điểm tổ chức lại các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh theo hướng thành lập Trung tâm Truyền thông tỉnh Cao Bằng trên cơ sở hợp nhất Báo Cao Bằng, Đài Phát thanh - truyền hình tỉnh, Cổng thông tin điện tử Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Tạp chí non nước Cao Bằng; 07 Đề án thí điểm hợp nhất các sở, ban, ngành có chức năng, nhiệm vụ tương đồng (Sở Kế hoạch Đầu tư với Sở Tài chính thành Sở Tài chính - Kế hoạch; Sở Giao thông vận tải với Sở Xây dựng thành Sở Giao thông vận tải - Xây dựng; Sở Thông tin và Truyền thông với Sở Khoa học và Công nghệ thành Sở Thông tin và Khoa học, công nghệ; Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy với Thanh tra tỉnh thành Cơ quan Kiểm tra - Thanh tra tỉnh; Ban Tổ chức Tỉnh ủy với Sở Nội vụ thành Ban Tổ chức - Nội vụ tỉnh Cao Bằng; Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội với Văn phòng Hội đồng nhân dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng thành Văn phòng tỉnh Cao Bằng; Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp tỉnh với Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh thành Ban Quản lý dự án đầu tư và xây dựng tỉnh Cao Bằng); phê duyệt 03 Đề án thí điểm hợp nhất Văn phòng Huyện ủy với Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện thành Văn phòng huyện Bảo Lạc, Nguyên Bình và Hòa An.

Thực hiện mô hình Văn phòng cấp ủy tỉnh phục vụ chung; đổi mới cơ chế hoạt động của Ban Bảo vệ Chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh; nhất thể hóa chức danh Trưởng ban Dân vận đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, cấp huyện; Trưởng ban Tuyên giáo đồng thời là Giám đốc Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện. Thí điểm hợp nhất một số cơ quan, đơn vị cấp tỉnh: Sở Giao thông vận tải với Sở Xây dựng thành Sở Giao thông vận tải - Xây dựng; Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh với Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh thành Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội - Hội đồng nhân dân tỉnh; hợp nhất Văn phòng Huyện ủy với Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện Hòa An thành Văn phòng huyện Hòa An.

Sau sắp xếp giảm 04 đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy, tỷ lệ giảm 21,05% (từ 19 còn 15 đảng bộ); giảm 480/2.044 đầu mối bên trong các cơ quan, các đơn vị sự nghiệp và tổ chức bên trong các đơn vị sự nghiệp công lập, tỉ lệ giảm 23,48% (đầu mối bên trong cơ quan đảng, đoàn thể, hành chính giảm 199/641; đơn vị sự nghiệp và đầu mối bên trong đơn vị sự nghiệp công lập giảm 281/1.403).

Hoàn thành việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp huyện (sáp nhập huyện Thông Nông vào huyện Hà Quảng thành huyện Hà Quảng; sáp nhập huyện Quảng Uyên, huyện Phục Hòa, xã Quốc Toản, huyện Trà Lĩnh thành lập huyện Quảng Hòa; sáp nhập huyện Trà Lĩnh vào huyện Trùng Khánh thành huyện Trùng Khánh), cấp xã, các xóm, tổ dân phố và giảm số người hoạt động không chuyên trách; sau sáp nhập, toàn tỉnh còn 10 đơn vị hành chính cấp huyện (giảm 03 huyện, tỉ lệ giảm 23,07%); 161 đơn vị hành chính cấp xã (giảm 38 xã, tỉ lệ giảm 19,1%); 1.462 xóm, tổ dân phố (giảm 1.025 xóm, tổ dân phố, tỉ lệ giảm 41,2%); giảm 21.874 người hoạt động không chuyên trách (xã giảm 2.374 người, xóm giảm 19.500 người). Sau sắp xếp, cán bộ, nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; bộ máy mới đi vào hoạt động ổn định, hiệu quả hơn so với trước.

Tổ chức đảng được sắp xếp, kiện toàn phù hợp với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; các Đảng bộ trực thuộc thường xuyên kiện toàn Ban Chấp hành, Ban Thường vụ đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng; trong nhiệm kỳ đã kiện toàn cấp ủy đối với 867 tổ chức cơ sở Đảng; giải thể, chia tách, sáp nhập, thành lập mới 122 chi đảng bộ cơ sở; duy trì 100% xóm có đảng viên, xóm có chi bộ. Chất lượng đảng viên, cấp ủy viên các cấp tiếp tục được nâng lên; kết nạp trên 10.000 đảng viên mới, đạt 100% mục tiêu Nghị quyết Đại hội, nâng tổng số đảng viên của Đảng bộ tỉnh trên 57.000 đảng viên.

Triển khai đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ, đẩy mạnh phân cấp quản lý đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát. Công tác quy hoạch cán bộ được thực hiện dân chủ, công khai, khoa học, chặt chẽ, có nhiều đổi mới, đảm bảo phương châm “động” và “mở” và đầy đủ 04 bước cơ bản trong quy trình. Công tác điều động, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ được triển khai thận trọng, đảm bảo quy trình 05 bước trong công tác bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ ứng cử; trong nhiệm kỳ đã luân chuyển, bổ nhiệm 91 đồng chí (trong đó luân chuyển 38 đồng chí); giới thiệu 412 cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý tham gia ứng cử các chức danh. Từng bước thực hiện chủ trương người đứng đầu không phải là người địa phương ở một số cấp ủy cấp huyện. Công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại tổ chức đảng, đảng viên và cán bộ hàng năm được triển khai nghiêm túc; việc gợi ý kiểm điểm sâu đối với tổ chức, cá nhân được thực hiện cùng thời điểm kiểm điểm cuối năm, kết hợp với nội dung kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII).

Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ giai đoạn 2016 - 2020 được quan tâm thực hiện hiệu quả; trong nhiệm kỳ đã đào tạo sau đại học 539 đồng chí, cao cấp lý luận chính trị 430 đồng chí, trung cấp lý luận chính trị 3.714 đồng chí; mở 02 lớp cán bộ dự nguồn Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025 với 153 học viên; cử 27.823 lượt cán bộ, công chức tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ, quản lý nhà nước, ngoại ngữ, tin học, quốc phòng - an ninh… Thực hiện tốt công tác chính sách đối với cán bộ, công chức. Chủ động nắm và giải quyết vấn đề về lịch sử chính trị, chính trị hiện nay đảm bảo đúng quy định; thường xuyên rà soát, kịp thời phát hiện và có biện pháp chấn chỉnh, xử lý, sử dụng phù hợp đối với những trường hợp có vấn đề về lịch sử chính trị, chính trị hiện nay.

4.3. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được đẩy mạnh với phương châm giám sát thì mở rộng, kiểm tra thì có trọng tâm, trọng điểm và thể hiện rõ tính chủ động, công minh, chính xác, kịp thời, góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật và sự đoàn kết thống nhất, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng

Hệ thống các văn bản về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng được tuyên truyền, quán triệt và triển khai đầy đủ, kịp thời. Các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp tiến hành kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng kiểm tra người đứng đầu, tập trung kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; nhiều vụ việc phức tạp, dư luận quan tâm đã được xem xét, kết luận; công tác giám sát được mở rộng, tập trung vào những lĩnh vực, địa bàn nổi cộm, dễ phát sinh tiêu cực. Sự phối hợp giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra chính quyền và cơ quan điều tra, truy tố, xét xử ngày càng chặt chẽ.

Kết quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trong nhiệm kỳ khá toàn diện và rõ nét, cấp ủy các cấp đã kiểm tra 5.069 lượt tổ chức đảng và 6.682 lượt đảng viên; giám sát chuyên đề 1.577 lượt tổ chức đảng và 3.517 lượt đảng viên; thành lập các đoàn kiểm tra khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của các tổ chức, cá nhân đã được chỉ ra qua kiểm điểm cuối năm; kiểm tra về trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ gắn với 82 biểu hiện về suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; quyết định thi hành kỷ luật kỷ luật 06 tổ chức đảng và 262 đảng viên.

Ủy ban kiểm tra các cấp kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 10 tổ chức đảng và 116 đảng viên; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đối với 1.413 lượt tổ chức đảng; kiểm tra việc thi hành kỷ luật trong đảng đối với 102 lượt tổ chức đảng; giám sát 687 lượt tổ chức đảng và 884 lượt đảng viên; tiến hành giải quyết đơn thư tố cáo đối với 70 trường hợp; giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng đối với 02 trường hợp; thi hành kỷ luật đối với 149 đảng viên.

Qua kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã chỉ rõ những hạn chế, thiếu sót, những biểu hiện suy thoái trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo ở các cấp, các ngành để chỉ đạo uốn nắn, khắc phục kịp thời, góp phần ngăn chặn tiêu cực, cảnh báo, phòng ngừa, phát hiện các dấu hiệu vi phạm, từng bước làm trong sạch đội ngũ cán bộ. Sau kiểm tra, những tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật đã được xử lý nghiêm minh, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

4.4. Công tác Dân vận của hệ thống chính trị có những chuyển biến tích cực, nội dung và phương thức hoạt động có nhiều đổi mới

Các cấp ủy đảng đã lãnh đạo triển khai kịp thời và vận dụng sáng tạo, có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với công tác dân vận, trọng tâm là Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Dân vận trong tình hình mới”; chỉ đạo thực hiện tốt Quy chế dân vận của hệ thống chính trị, đề ra những giải pháp, cách làm mới, sáng tạo, hiệu quả, phù hợp với thực tế của địa phương.

Công tác dân vận của các cơ quan Nhà nước đạt được kết quả tích cực: chính quyền các cấp đã quan tâm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Các cấp, các ngành phối hợp thực hiện nghiêm túc chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo; tích cực nắm tình hình cơ sở, kịp thời phát hiện và đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động tôn giáo trái pháp luật; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ, phát huy vai trò trách nhiệm của Ban Chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ các cấp, thực hiện tốt công tác hoà giải trong nội bộ nhân dân, góp phần giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh từ cơ sở. Việc xây dựng, duy trì và thực hiện quy chế phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị về thực hiện công tác dân vận được đẩy mạnh, đặc biệt là tập trung tuyên truyền, vận động và tạo được sự đồng thuận, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong việc sắp xếp, sáp nhập các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã, các xóm, tổ dân phố; giải phóng mặt bằng phục vụ việc triển khai dự án đường phía Nam, thành phố Cao Bằng và các dự án khác trên địa bàn tỉnh. Các phong trào thi đua yêu nước, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và phong trào thi đua “Dân vận khéo” đã huy động được cả hệ thống chính trị tham gia, nhiều mô hình, điển hình có sức lan toả được nhân rộng. Toàn tỉnh duy trì và xây dựng được trên 5.200 mô hình “Dân vận khéo” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

4.5. Lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt có hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí; công tác cải cách tư pháp được đẩy mạnh

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Thực hiện tốt việc kê khai minh bạch tài sản, thu nhập và kiểm soát việc kê khai tài sản theo đúng quy định của Đảng, Nhà nước. Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật được đẩy mạnh, những vụ việc, vụ án tham nhũng phức tạp, nhạy cảm được dư luận xã hội quan tâm đều được thông tin định hướng kịp thời. Công tác thanh tra kinh tế - xã hội, thanh tra chuyên đề được tăng cường, góp phần tích cực vào công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Trong nhiệm kỳ, thanh tra các cấp, ngành tiến hành 441 cuộc thanh tra về kinh tế - xã hội, kịp thời phát hiện sai phạm và kiến nghị thu hồi, khắc phục hậu quả.

Các cơ quan tiến hành tố tụng, bảo vệ pháp luật phối hợp chặt chẽ trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra trường hợp oan sai, bỏ lọt tội phạm. Hoạt động tranh tụng tại phiên toà có nhiều chuyển biến theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật, bổ trợ tư pháp được đẩy mạnh, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân.

Công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân thường xuyên được chú trọng thực hiện ngay từ cơ sở. Trách nhiệm, chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cấp, các ngành được nâng lên, nhiều vụ việc phức tạp được chỉ đạo giải quyết dứt điểm.

5. Hoạt động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội

5.1. Hiệu lực quản lý nhà nước, năng lực chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp được nâng lên

Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh thường xuyên tổ chức tốt các cuộc tiếp xúc cử tri, chương trình giám sát theo kế hoạch; chủ động phối hợp với chính quyền các cấp giải quyết kịp thời các kiến nghị của cử tri; tham gia nghiên cứu, góp ý các dự án luật; tích cực trao đổi, làm việc với các bộ, ngành Trung ương để xem xét, giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri Cao Bằng.

Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp có nhiều đổi mới, cụ thể hóa kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của cấp ủy; ban hành nhiều nghị quyết về cơ chế, chính sách phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh, chính sách đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh và quyết định nhiều vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn. Thực hiện tốt phiên chất vấn tại các kỳ họp, tiếp xúc cử tri trước, sau kỳ họp và tiếp xúc chuyên đề; tăng cường giám sát, đôn đốc các cơ quan có thẩm quyền trong giải quyết kiến nghị của cử tri và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, thực hiện lời hứa chất vấn, kiến nghị sau giám sát. Thường trực Hội đồng nhân dân đã tổ chức các phiên chất vấn, giải trình giữa hai kỳ họp để kịp thời giải quyết những ý kiến nổi cộm, bức xúc của người dân và doanh nghiệp. Công tác phối hợp hoạt động giữa Hội đồng nhân dân với Ủy ban nhân dân trong việc chuẩn bị nội dung các kỳ họp, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc tiếp xúc cử tri và với các cơ quan hữu quan cùng cấp được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ. Tổ chức tiếp công dân định kỳ và giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo thực hiện đúng quy định.

Ủy ban nhân dân các cấp đã bám sát sự lãnh đạo của cấp ủy, triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết của hội đồng nhân dân, chú trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; có nhiều giải pháp chủ động, tích cực, nhạy bén, quyết tâm, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, củng cố quốc phòng - an ninh trên địa bàn tỉnh. Công tác cải cách hành chính được quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ và đạt được nhiều kết quả tích cực. Thành lập Hiệp hội doanh nghiệp để phối hợp với các sở, ban, ngành của tỉnh trong tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và liên kết phát triển sản xuất kinh doanh. Thành lập Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh để hướng dẫn, tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính, góp phần giảm thời gian, chi phí, cắt giảm thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đến liên hệ giải quyết công việc nhanh chóng; triển khai thực hiện phần mềm hệ thống một cửa liên thông hiện đại ở 100% các đơn vị cấp huyện; tổ chức đánh giá năng lực cạnh tranh các sở, ban, ngành, các huyện, thành phố (DDCI) và chỉ số cải cách hành chính (PAR-INDEX); ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ, kỷ luật, kỷ cương hành chính được tăng cường.

5.2. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội thường xuyên quan tâm củng cố tổ chức, có nhiều đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng, xây dựng đời sống văn hóa, tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội. Thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hằng năm, mỗi đơn vị lựa chọn 01 - 02 nhiệm vụ trọng tâm, đột phá tập trung vào các lĩnh vực: Tập hợp đoàn viên, hội viên; tổng hợp, phản ánh kiến nghị của cử tri; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi hội trực thuộc; phát huy nguồn lực xã hội, xóa nhà dột nát cho các hộ nghèo… và tổ chức triển khai thực hiện, đã thu hút đông đảo cán bộ, đoàn viên, hội viên tham gia hưởng ứng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị. Chủ động phối hợp với các cấp ủy đảng, chính quyền nắm chắc tình hình, phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng, quan tâm, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội, thực hiện tốt chương trình phối hợp giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước, xử lý có hiệu quả những vướng mắc phát sinh từ cơ sở; xây dựng và phát huy vai trò người tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng dân cư. Tích cực đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh của địa phương.

III- Đánh giá chung; những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

1. Đánh giá chung; nguyên nhân kết quả đạt được

1.1. Đánh giá chung

Qua 05 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Cao Bằng luôn phát huy truyền thống quê hương cội nguồn cách mạng và sức mạnh đoàn kết các dân tộc, quyết tâm, quyết liệt, đổi mới, sáng tạo, trách nhiệm, kỷ cương, nỗ lực phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn, thử thách; lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đảng bộ tỉnh đã định hướng đúng chiến lược để huy động mọi nguồn lực của tỉnh tháo gỡ 03 điểm nghẽn, nút thắt, tập trung vào 03 đột phá chiến lược nhằm phát huy 05 lợi thế của tỉnh, làm đến đâu dứt điểm đến đó, khắc phục tình trạng dàn trải, dở dang, dàn hàng ngang cùng tiến, nợ đọng vốn... Kinh tế của tỉnh liên tục phát triển năm sau cao hơn năm trước; 17/17 chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đạt và vượt kế hoạch, trong đó 4 năm liên tiếp (từ năm 2017 - 2020) đều hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu đã đề ra, bình quân hàng năm có 11 chỉ tiêu vượt kế hoạch. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, thu hút được nhiều nguồn lực của các nhà đầu tư chiến lược cho phát triển; thu ngân sách trên địa bàn đạt tốc độ tăng trưởng khá, bình quân tăng 11%/năm; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư và từng bước hoàn thiện theo hướng hiện đại; bộ mặt đô thị, nông thôn có nhiều đổi mới. Công viên địa chất Non nước Cao Bằng được UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu, Dự án đường bộ cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Trà Lĩnh (Cao Bằng) chuẩn bị triển khai thi công, mở ra cơ hội cho sự phát triển của tỉnh trong thời gian tới. Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh, an sinh xã hội được đảm bảo; năng suất lao động, thu nhập trên đầu người không ngừng tăng lên; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc được cải thiện và nâng lên rõ rệt. Quốc phòng - an ninh được củng cố, tăng cường; bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia.

Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được chú trọng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của các cấp chính quyền được nâng lên. Thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức, bộ máy, cán bộ theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả các cơ quan khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị, cơ quan hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp khối công lập. Hoàn thành việc sắp xếp, sáp nhập các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã, các xóm, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh, đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan, có sự thống nhất cao trong toàn hệ thống chính trị và sự đồng thuận, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh; các địa phương, đơn vị sau sắp xếp, sáp nhập đi vào hoạt động ổn định, ngày càng phát huy tốt hơn chức năng, nhiệm vụ. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức không ngừng được nâng cao, có nhiều đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Nhân dân các dân tộc trong tỉnh chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tin tưởng vào sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, hăng say học tập, lao động, sản xuất, tự giác vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng. Khối đại đoàn kết các dân tộc tiếp tục được củng cố, phát huy sức mạnh, tạo sự đồng thuận, ủng hộ cao trong các tầng lớp nhân dân vì sự phát triển của tỉnh.

1.2. Nguyên nhân kết quả đạt được

Cao Bằng luôn nhận được sự quan tâm, ủng hộ, tạo điều kiện giúp đỡ của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các ban, bộ, ngành Trung ương và các tỉnh, thành phố trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Đảng bộ tỉnh đã chấp hành và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Xác định lợi thế sẵn có, khác biệt vùng biên giới Đông Bắc, điểm nghẽn, nút thắt và nhiệm vụ đột phá chiến lược, đồng thời tập trung huy động mọi nguồn lực để triển khai thực hiện.

Đảng bộ, chính quyền các cấp luôn quyết tâm, quyết liệt, đổi mới, sáng tạo, tập trung, thống nhất cao trong lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện; làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, đi sâu, đi sát cơ sở để nắm tình hình, tâm tư, nguyện vọng và giải quyết kịp thời các ý kiến, bức xúc của nhân dân, tạo sự đồng thuận, ủng hộ cao của toàn xã hội trong triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị.

Các cấp ủy đảng, chính quyền đã phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm nêu gương, tinh thần tự phê bình và phê bình, tính chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, địa phương, đơn vị trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân các dân tộc trong tỉnh luôn phát huy truyền thống quê hương cội nguồn cách mạng, sức mạnh đoàn kết, nỗ lực, chủ động khắc phục mọi khó khăn, chung tay góp sức, đồng lòng vì mục tiêu xây dựng Cao Bằng ngày càng phát triển.

2. Hạn chế, yếu kém và nguyên nhân        

2.1. Hạn chế, yếu kém

(1) Lĩnh vực kinh tế

Nhiệm kỳ vừa qua, định hướng chiến lược là ưu tiên khai thác tài nguyên (chọn mô hình dễ) để tăng trưởng kinh tế mà chưa chú trọng tới phát huy năng lực sản xuất, khoa học - công nghệ, năng lực kinh tế tập thể, năng lực cạnh tranh, năng lực đổi mới sáng tạo, lực lượng doanh nghiệp chất lượng cao...

Chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế còn chậm. Nền kinh tế vẫn chủ yếu phát triển theo hình thức tự cấp, tự túc, tiêu thụ trong nội bộ tỉnh là chính. Việc phát triển các vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp lớn, hướng đến xuất khẩu còn ít; giá trị sản xuất nông nghiệp trên 01 ha đất, thu nhập bình quân đầu người của tỉnh còn thấp; kết quả xây dựng nông thôn mới chưa thực sự bền vững, nhất là tiêu chí về sinh kế và nâng cao thu nhập người dân. Tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ còn chậm; các loại hình dịch vụ du lịch còn nghèo nàn, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu. Thiếu sự gắn kết trong phát triển giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ; chưa hình thành được các cụm liên kết ngành, liên kết vùng và khu vực để mở rộng quy mô, thúc đẩy tăng trưởng.

Khu vực kinh tế tập thể chưa phát triển; các doanh nghiệp địa phương chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ, năng lực tài chính, quản trị yếu, cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý. Hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế - xã hội chưa đồng bộ; công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị có mặt còn bất cập. Thu ngân sách nhà nước chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển, chi thường xuyên chiếm tỉ trọng cao.

Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trên một số lĩnh vực còn thấp; cải cách hành chính chuyển biến chậm, môi trường đầu tư kinh doanh chưa thực sự thông thoáng. Công tác giải phóng mặt bằng, tiến độ thực hiện nhiều dự án, giải ngân vốn đầu tư công một số công trình còn chậm. Khu kinh tế cửa khẩu chưa phát huy hết tiềm năng thế mạnh, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa chưa vững chắc, còn lệ thuộc nhiều vào yếu tố bên ngoài; các khu, cụm công nghiệp tiến độ triển khai chậm, chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư chiến lược.

(2) Văn hóa - xã hội

Chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới còn thấp; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn cao. Việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, phi vật thể và vật thể chưa tương xứng với tiềm năng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin triển khai còn chậm, thiếu đồng bộ. Khả năng tạo việc làm và liên kết tạo việc làm còn yếu. Kết quả giảm nghèo chưa bền vững; tỉ lệ hộ tái nghèo và số hộ cận nghèo vẫn ở mức cao; chênh lệch về mức sống và thụ hưởng văn hóa tinh thần giữa các vùng, miền còn lớn.

(3) Quốc phòng - an ninh, tư pháp, đối ngoại

Nguồn lực đầu tư xây dựng, cải tạo các công trình quốc phòng trong khu vực phòng thủ chưa đáp ứng yêu cầu. Tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội và hoạt động của tổ chức bất hợp pháp “Dương Văn Mình” còn diễn biến phức tạp; tình trạng lao động phổ thông xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc làm thuê còn ở mức cao. Cải cách tư pháp chưa đồng bộ ở một số lĩnh vực; việc triển khai thực hiện kết luận thanh tra ở một số vụ việc còn chậm; công tác giải quyết đơn thư, khiếu nại tố cáo có lúc chưa kịp thời, vẫn còn đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp. Công tác phối hợp triển khai các hoạt động kinh tế đối ngoại giữa các ngành, địa phương trong tỉnh có lúc chưa đồng bộ, thống nhất; tiến độ triển khai một số thỏa thuận Quốc tế đã ký kết còn chậm.

(4) Công tác xây dựng Đảng

Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng trong đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ít người còn hạn chế. Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu, ít công trình nghiên cứu chuyên sâu. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số ít tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, nhất là khâu cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ; công tác phát triển đảng viên mới ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ít người và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước còn khó khăn. Năng lực, ý thức trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên chưa cao. Phân cấp, phân quyền giữa cấp tỉnh và cấp huyện chưa mạnh. Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng có mặt còn hạn chế nhất là cấp cơ sở. Công tác vận động quần chúng có lúc, có nơi chưa hiệu quả; công tác Dân vận ở một số cơ quan Nhà nước chưa được quan tâm đúng mức; thực hiện Quy chế dân chủ ở một số nơi còn hình thức.

(5) Hoạt động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội

Một số Nghị quyết của Hội đồng nhân dân còn hạn chế về chất lượng; việc đôn đốc, theo dõi thực hiện các Nghị quyết sau giám sát chưa thường xuyên. Công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn thiếu chủ động; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong thực hiện nhiệm vụ chưa thực sự chặt chẽ, đồng bộ. Cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh chuyển biến chậm.

Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có nơi chưa sâu sát cơ sở; vai trò giám sát, phản biện xã hội chưa được thể hiện rõ nét; việc phối hợp tổ chức các hội nghị đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân còn khó khăn và lúng túng. Các phong trào thi đua, các cuộc vận động ở một số nơi chưa được duy trì thường xuyên, thiếu chiều sâu, hiệu quả chưa rõ nét.

2.2. Nguyên nhân hạn chế, yếu kém

* Nguyên nhân khách quan:

Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của tỉnh không thuận lợi, xa các trung tâm kinh tế lớn của đất nước, tiếp cận thị trường bên ngoài còn hạn chế; thường xuyên xảy ra thiên tai, dịch bệnh. Doanh nghiệp ít, quy mô quá nhỏ, sức cạnh tranh yếu. Sản xuất nông nghiệp chưa gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến với tiêu thụ sản phẩm; chưa có những doanh nghiệp lớn đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp chất lượng cao. Nhu cầu đầu tư lớn, suất đầu tư cao, nguồn lực của tỉnh còn hạn hẹp, chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ của Trung ương; nhiều cơ chế, chính sách của Nhà nước (chính sách 30a, 135, xây dựng nông thôn mới...) nguồn lực nhỏ, manh mún, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.

* Nguyên nhân chủ quan:

Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp; thiếu đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học trên các lĩnh vực. Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của một số cấp ủy, chính quyền và cá nhân người đứng đầu một số địa phương, đơn vị chưa thực sự năng động, sáng tạo, quyết tâm, quyết liệt; phương pháp làm việc chưa khoa học, thiếu hiệu quả; năng lực phân tích, dự báo tình hình còn yếu. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành có lúc chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ. Công tác kiểm tra, giám sát, theo dõi, đôn đốc, nhắc nhở trong thực thi công vụ ở một số cơ quan, đơn vị chưa nghiêm túc, nhất là ở cơ sở; tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ của một số cán bộ, đảng viên chưa cao, còn đùn đẩy, né tránh, ngại va chạm.

Thiếu nguồn lực để triển khai thực hiện các chương trình, dự án. Chưa tận dụng tốt lợi thế đi sau để tăng tốc phát triển kinh tế. Trên một số lĩnh vực như: Nông nghiệp, du lịch, kinh tế cửa khẩu còn thiếu những cơ chế, chính sách và giải pháp mang tính đặc thù của tỉnh biên giới để tạo đột phá, thu hút các nhà đầu tư chiến lược đến nghiên cứu và đầu tư tại tỉnh; hỗ trợ thúc đẩy khởi nghiệp và doanh nghiệp thực hiện đổi mới, ứng dụng công nghệ còn ít.  Việc nắm bắt tình hình tư tưởng, định hướng dư luận xã hội có lúc, có nơi chưa kịp thời; chưa khơi dậy mạnh mẽ ý chí, động lực vươn lên làm giàu của người dân; một bộ phận nhân dân còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại, chưa chấp hành nghiêm các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của tỉnh.

IV- Một số bài học kinh nghiệm

Một là, Tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự nghiệp đổi mới của Đảng, đất nước; chấp hành nghiêm và triển khai, tổ chức thực hiện linh hoạt, chủ động, sáng tạo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào tình hình thực tế của địa phương.

Hai là, Lãnh đạo, chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện quyết tâm, quyết liệt đến cùng, đổi mới, sáng tạo, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, đảm bảo nguyên tắc khoa học, công khai, minh bạch, dân chủ, khách quan; không ngừng củng cố mối quan hệ mật thiết, gắn bó khăng khít giữa Đảng với nhân dân.

Ba là, Thường xuyên đổi mới phương pháp, cách làm; nắm chắc và kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn; dự báo chính xác, xây dựng chiến lược phát triển kịp thời; quá trình thực hiện không cầu toàn nhưng phải cầu thị, học hỏi kinh nghiệm, làm đến đâu dứt điểm đến đó. Chủ động lựa chọn những việc khó, việc mới để tạo bứt phá, khác biệt trên các lĩnh vực; đối với từng việc cụ thể phải dự báo đúng, xây dựng phương án, kịch bản điều hành, chương trình, kế hoạch, lộ trình chi tiết, sát thực tế, phân công nhiệm vụ, trách nhiệm, mốc thời gian hoàn thành cụ thể, rõ ràng, chủ động phối hợp, gắn trách nhiệm của từng địa phương, đơn vị, nhất là người đứng đầu thì mọi việc thực hiện đều thành công.

Bốn là, Phát huy sức mạnh đoàn kết, thống nhất, đồng thuận, trách nhiệm, lấy dân làm gốc; khơi dậy khát vọng, bản lĩnh, ý chí, lòng tự hào, tự tôn của quê hương cội nguồn cách mạng trong các tầng lớp nhân dân, động viên nhân dân thay đổi nhận thức chịu khổ hơn chịu khó, tích cực cổ vũ, tạo động lực phấn đấu, hăng say trong học tập, lao động, sản xuất, vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng.

Năm là, Tăng cường kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên trong thực thi nhiệm vụ, nhất là trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng. Chú trọng làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm; kịp thời biểu dương, khen thưởng, tôn vinh, đồng thời nhân rộng những điển hình tiên tiến, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả trong công tác, học tập, lao động và sản xuất.

Phần thứ hai

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

CHỦ YẾU 5 NĂM 2020 - 2025

I- Dự báo bối cảnh tình hình những năm tới

Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục vận động theo xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng song gặp nhiều trở ngại, thách thức. Kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng và suy thoái; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc diễn ra gay gắt; biến đổi khí hậu cực đoan; các hoạt động xung đột cục bộ, tranh chấp chủ quyền, biển đảo diễn ra căng thẳng, quyết liệt hơn.

Ở trong nước, sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và thời đại kinh tế số tiếp tục mang đến nhiều cơ hội cũng như khó khăn, thách thức cho sự phát triển, trong đó: nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và tụt hậu xa hơn về kinh tế; tình hình Biển Đông, thiên tai, dịch bệnh tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường, đại dịch Covid-19 nguy cơ bùng phát vẫn ở mức cao… sẽ là những thách thức lớn tác động không nhỏ đến việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của đất nước nói chung và các địa phương nói riêng, trong đó có Cao Bằng.

Là tỉnh miền núi, biên giới, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, Cao Bằng vẫn còn không ít khó khăn, thách thức: nền kinh tế có quy mô nhỏ; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn thiếu và yếu; nhu cầu đầu tư lớn trong khi nguồn lực còn hạn hẹp; tỉ lệ hộ nghèo, cận nghèo cao; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp; an ninh trật tự còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp... Song, với một số lợi thế có tính khác biệt so với các địa phương khác trong cả nước và những định hướng lớn mang tính chiến lược về phát triển du lịch - dịch vụ, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hàng hóa đặc sản, đặc trưng, kinh tế cửa khẩu, cùng với những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua là tiền đề, nền tảng quan trọng để Cao Bằng tiếp tục bứt phá, vươn lên phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 

II- Quan điểm chỉ đạo

1. Kiên định với mục tiêu, lý tưởng và sự nghiệp đổi mới của Đảng; tiếp tục nâng cao năng lực và sức chiến đấu, phát huy mạnh mẽ vai trò tiên phong của tổ chức đảng, đảng viên; xây dựng Đảng bộ tỉnh ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện.

2. Thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để khai thác tối đa các tiềm năng, lợi thế sẵn có của tỉnh về du lịch - dịch vụ, nông nghiệp và kinh tế cửa khẩu; phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; thực hiện tốt các chính sách đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia.

3. Khơi dậy và phát huy mạnh mẽ truyền thống quê hương cội nguồn cách mạng, sức mạnh đoàn kết của các dân tộc, đổi mới, sáng tạo, kỷ luật, kỷ cương, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tạo sự thống nhất, đồng thuận cao trong toàn xã hội, đưa Cao Bằng trở thành tỉnh giàu về kinh tế, vững về chính trị, mạnh về quốc phòng - an ninh trong khu vực miền núi Bắc bộ.

III. Mục tiêu phát triển

1. Mục tiêu tổng quát

Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy mạnh mẽ nội lực, đổi mới, sáng tạo, quyết tâm, quyết liệt, tạo đột phá mới trên các lĩnh vực; từng bước xây dựng và phát triển kinh tế số; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng hợp tác đối ngoại, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia, xây dựng Cao Bằng trở thành tỉnh năng động, phát triển nhanh và bền vững.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu

2.1. Chỉ tiêu kinh tế

(1) Tổng sản phẩm (GRDP) tăng trưởng trên 8%/năm; đến năm 2025, cơ cấu kinh tế: Nông, lâm, ngư nghiệp 16,4%; Công nghiệp - xây dựng 32,4%; Dịch vụ 48,2%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 3%.

(2) Đến năm 2025 GRDP bình quân đầu người đạt 60 triệu đồng.

(3) Đến năm 2025, giá trị sản phẩm trồng trọt, nuôi trồng thủy sản trên 01 đơn vị diện tích (ha) đạt 50 triệu đồng.

 (4) Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu qua địa bàn tăng bình quân 10%/năm.

(5) Thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân trên 12%/năm.

(6) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội hằng năm tăng bình quân trên 11%/năm.

(7) Đến năm 2025, phấn đấu xây dựng hoàn thành tuyến đường bộ cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Trà Lĩnh (Cao Bằng) giai đoạn 1; phấn đấu 85% chiều dài các tuyến đường huyện, đường xã được nhựa hóa/bê tông hóa mặt đường, 100% xã có đường đến trung tâm xã được nhựa hóa/bê tông hóa.

2.2. Chỉ tiêu văn hóa - xã hội

(8) Tiếp tục nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục các cấp học; mỗi huyện, thành phố tăng thêm ít nhất 1 trường chuẩn quốc gia/năm.

(9) Đến năm 2025, 75% số xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế; duy trì 15 bác sĩ/1 vạn dân; 35 giường bệnh/1 vạn dân; tỉ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế 98,7%.

(10) Đến năm 2025, tỉ lệ gia đình văn hóa 85%; tỉ lệ khu dân cư văn hóa 60%; tỉ lệ cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa 95%; tỉ lệ khu dân cư có nhà văn hóa 85%.

(11) Giảm tỉ lệ hộ nghèo bình quân trên 4%/năm.

(12) Đến năm 2025, tỉ lệ lao động qua đào tạo 50%, trong đó đào tạo nghề 40%; giảm tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống 3% năm 2025.

(13) Đến năm 2025, số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới đạt 50 xã. Trong đó 10 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao.

2.3. Các chỉ tiêu về môi trường

(14) Đến năm 2025, tỉ lệ che phủ rừng 60%.

(15) Đến năm 2025, phấn đấu 100% dân cư thành thị được dùng nước sạch; trên 95% dân cư nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh.

(16) Đến năm 2025, phấn đấu 100% số hộ chăn nuôi đưa gia súc ra khỏi gầm sàn nhà ở.

(17) Đến năm 2025, tỉ lệ chất thải rắn sinh hoạt khu vực đô thị được xử lý đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường đạt 90%; tỉ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đạt 100%.

2.4. Xây dựng Đảng

(18) Tỉ lệ tổ chức cơ sở đảng hằng năm hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt trên 80%; bình quân hằng năm kết nạp mới trên 2.000 đảng viên.

3. Các nội dung đột phá chiến lược và các chương trình công tác trọng tâm giai đoạn 2020 - 2025

3.1. Tập trung vào ba nhiệm vụ đột phá chiến lược

(1) Phát triển du lịch - dịch vụ bền vững.

(2) Phát triển nông nghiệp thông minh và nông nghiệp theo hướng hàng hóa đặc sản gắn với chế biến.

(3) Phát triển kinh tế cửa khẩu.

3.2. Ba chương trình trọng tâm

(1) Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

(2) Chương trình cải cách cơ chế, chính sách (cơ chế, chính sách mới, có tính chất đột phá để cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, sự phối hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa các ban, sở, ngành với các địa phương trong triển khai thực hiện nhiệm vụ...).

(3) Chương trình phát triển kết cấu hạ tầng (giao thông, du lịch, cửa khẩu và đô thị)

IV- Nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu

1. Về phát triển kinh tế

1.1. Huy động các nguồn lực để thực hiện 03 nhiệm vụ đột phá chiến lược và tháo gỡ 03 điểm nghẽn, nút thắt để khai thác tối đa 05 lợi thế sẵn có của tỉnh

Khai thác và phát huy hiệu quả lợi thế so sánh của tỉnh về phát triển du lịch, dịch vụ bền vững, đưa du lịch Cao Bằng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Huy động các nguồn lực để đầu tư cơ sở hạ tầng các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh: Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó, Rừng Trần Hưng Đạo, Địa điểm Chiến thắng biên giới năm 1950 huyện Thạch An và các di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn tỉnh. Đầu tư cải tạo, nâng cấp các tuyến giao thông kết nối các điểm, khu du lịch trên địa bàn tỉnh. Thu hút các nhà đầu tư chiến lược xây dựng hạ tầng du lịch đa chức năng để khai thác có hiệu quả các danh lam, thắng cảnh: Vườn quốc gia Phja Oắc - Phja Đén, Hồ Khuổi Khoán, Hồ Thang Hen, Núi mắt thần Nặm Chá, Động Ngườm Pục, Động Ngườm Ngao, Động Dơi... Đẩy mạnh hợp tác với Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây (Trung Quốc); hoàn thiện các điều kiện vận hành Khu cảnh quan thác Bản Giốc (Việt Nam) - Đức Thiên (Trung Quốc); xây dựng cơ chế đặc thù thu hút nhà đầu tư chiến lược đầu tư xây dựng Khu du lịch thác Bản Giốc trở thành Khu du lịch trọng điểm quốc gia, là mô hình kiểu mẫu về hợp tác du lịch liên quốc gia.

Quảng bá các danh thắng, di tích lịch sử, bản sắc văn hoá các dân tộc, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng. Tập trung cơ cấu lại ngành du lịch, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ du lịch. Xây dựng các tour/tuyến du lịch trên địa bàn trong quan hệ hợp tác liên tỉnh, liên vùng và quốc tế; phối hợp với các tỉnh, thành phố thuộc vùng Trung du, miền núi phía Bắc hình thành các sản phẩm, các tour/tuyến mang đặc trưng du lịch miền núi. Phát triển, gắn kết các loại hình du lịch lịch sử - văn hóa, du lịch biên giới, du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng, du lịch tâm linh, du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm, du lịch mạo hiểm… Xây dựng các sản phẩm hàng hóa du lịch đặc trưng với những yếu tố độc đáo, khác biệt, mang đậm bản sắc Cao Bằng. Chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch, dịch vụ. Phấn đấu đưa du lịch Cao Bằng trở thành điểm đến thân thiện, hấp dẫn, trung tâm du lịch của các tỉnh khu vực trung du, miền núi phía Bắc.

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; bảo đảm an ninh lương thực tại chỗ và sinh kế bền vững từ sản xuất nông nghiệp cho người nông dân. Tiếp tục triển khai có hiệu quả Đề án nông nghiệp thông minh và nông nghiệp theo hướng hàng hóa đặc sản gắn với chế biến giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn 2030; hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung hướng tới xuất khẩu hàng hóa với các loại sản phẩm chủ lực có giá trị kinh tế cao như: các vùng trồng cây ăn quả, vùng rau sạch, vùng cây dược liệu.... trên cơ sở tận dụng tối đa lợi thế khí hậu, thổ nhưỡng từng vùng; duy trì hợp lý diện tích và nâng cao giá trị sản xuất của vùng mía nguyên liệu, vùng thuốc lá.

Xây dựng một số nhà máy sơ chế, chế biến, xử lý, đóng gói và kho bảo quản lạnh tại khu công nghiệp Chu Trinh, thành phố Cao Bằng và các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung. Tăng cường đầu tư ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại, cơ giới hoá và tin học hóa vào quá trình sản xuất; chú trọng thâm canh, chuyên canh, nâng cao chất lượng và giá trị các loại cây đặc sản có lợi thế, như: cây thạch đen, dong giềng, gừng, giảo cổ lam, hà thủ ô, bảy lá một hoa, các loại sâm và cây dược liệu khác...; cây ăn quả: lê, dẻ, cam, quýt, mận, chanh leo... Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến quảng bá, tiêu thụ các sản phẩm nông sản. Tiếp tục triển khai thực hiện chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP).

Từng bước chuyển dần chăn nuôi nhỏ lẻ sang phương thức chăn nuôi trang trại, gia trại; thúc đẩy chăn nuôi theo hướng liên kết, liên doanh và sản xuất theo chuỗi khép kín. Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư cho chăn nuôi; khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển các cơ sở sản xuất chăn nuôi hàng hóa công nghệ cao. Thực hiện có hiệu quả Dự án chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa công nghệ cao tỉnh Cao Bằng tại huyện Quảng Hòa để cung cấp sữa cho thị trường trong nước, hướng đến xuất khẩu, nhất là sang thị trường Trung Quốc; mở rộng, liên kết, hình thành vùng nguyên liệu phục vụ chăn nuôi bò sữa vệ tinh tại các hộ, gia trại thuộc các huyện Thạch An, Hạ Lang...

Tăng cường đầu tư phát triển kinh tế rừng; triển khai có hiệu quả các dự án trồng rừng (keo, thông, tông dù...), trồng cây lâm sản (trúc, quế, hồi...) tại các huyện Hòa An, Thạch An, Bảo Lâm, Bảo Lạc, Nguyên Bình, Hà Quảng, Trùng Khánh và thành phố Cao Bằng. Xây dựng cơ chế chính sách thu hút các doanh nghiệp đào tạo, chuyển giao nông nghiệp công nghệ cao, đầu tư phát triển kinh tế rừng, sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông, lâm sản; xây dựng nhà máy chế biến gỗ công nghệ cao tại thành phố Cao Bằng và cụm cơ sở chế biến lâm sản, dược liệu tại huyện Nguyên Bình. Chú trọng bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; quản lý và phát huy hiệu quả diện tích đất lâm nghiệp đã giao cho các hộ gia đình.

Thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Tăng đầu tư ngân sách và huy động các nguồn vốn để phát triển nhanh kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là giao thông, thủy lợi, các thiết chế văn hóa, thể thao... Xây dựng Bộ tiêu chí thôn, bản đạt tiêu chuẩn nông thôn mới; phấn đấu đến năm 2025, các xã đều có thôn, bản đạt tiêu chí nông thôn mới. Chú trọng đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Tiến hành bố trí, sắp xếp ổn định dân cư, đặc biệt là khu vực biên giới, vùng cao, vùng dễ xảy ra thiên tai.

Tiếp tục đầu tư phát triển kinh tế cửa khẩu, hoàn thiện cơ sở hạ tầng của Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh theo hướng đồng bộ, hiện đại đáp ứng yêu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới. Hoàn thành quy hoạch chung Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh (với diện tích trên 30 nghìn ha, 02 cửa khẩu quốc tế, 02 cửa khẩu chính,02 cửa khẩu phụ và nhiều đường mòn, lối mở) và quy hoạch chi tiết các khu chức năng của từng cửa khẩu; nâng cấp và mở các cửa khẩu, lối mở; đầu tư, cải tạo các tuyến đường tỉnh kết nối với các cửa khẩu, lối mở trong khu kinh tế cửa khẩu, đặc biệt là cửa khẩu Quốc tế Trà Lĩnh, Tà Lùng để phục vụ giao thương, xuất nhập khẩu hàng hóa. Hợp tác xây dựng Khu kinh tế qua biên giới Trà Lĩnh (Cao Bằng, Việt Nam) - Long Bang (Quảng Tây, Trung Quốc); Khu trung chuyển hàng hóa nông, lâm, thủy sản tại khu vực cửa khẩu Trà Lĩnh. Phát triển dịch vụ hậu cần, logistic; tổ chức sắp xếp lại, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động xuất, nhập khẩu; áp dụng các biện pháp giảm chi phí, thời gian thông quan hàng hóa, có cơ chế vượt trội cho xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh đến đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh tại khu kinh tế cửa khẩu, tạo nguồn thu thường xuyên và ổn định từ hoạt động kinh tế biên mậu, phấn đấu đến năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn đạt trên 4,5 tỷ USD; các khoản thu từ hoạt động phát triển Khu kinh tế cửa khẩu và hoạt động cửa khẩu chiếm trên 30% tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn. Đẩy mạnh liên kết vùng, liên kết địa phương trong vùng Tây Bắc và các tỉnh phía Nam trong xuất khẩu nông sản theo hợp đồng thương mại quốc tế. Đầu tư, phát triển Khu kinh tế cửa khẩu Trà Lĩnh, Tà Lùng trở thành điểm trung chuyển hàng hóa nông sản từ Việt Nam sang thị trường Trung Quốc.

1.2. Đẩy mạnh phát triển sản xuất công nghiệp theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường; khuyến khích đầu tư mở rộng quy mô, đa dạng hóa các loại hình thương mại

Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để ổn định, duy trì sản xuất, kinh doanh, khai thác tối đa năng lực sản xuất của các cơ sở sản xuất công nghiệp hiện có. Ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến sâu, nhất là các dự án công nghệ cao, sử dụng nguyên liệu, lao động tại địa phương, thân thiện với môi trường và nâng cao giá trị gia tăng như: chế biến nông, lâm sản, thực phẩm và các ngành hàng phục vụ du lịch; công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn; công nghiệp khai thác chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng. Phát triển các làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp truyền thống như: rèn nông cụ, trạm bạc, dệt thổ cẩm… Khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị, nâng cao giá trị sản xuất đối với các dự án phát triển công nghiệp, các nhà máy có tiềm năng như: Khu liên hợp Gang thép Cao Bằng, các nhà máy thủy điện; đẩy nhanh tích hợp công nghệ thông tin và tự động hóa trong sản xuất công nghiệp. Tích cực thu hút các nhà đầu tư có tiềm năng đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công nghiệp; hoàn thiện kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Chu Trinh, Thành phố Cao Bằng.

Tăng cường vận động, xúc tiến thương mại và đầu tư, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm thông qua các hình thức: tổ chức hội chợ thương mại, hội nghị đối thoại, xúc tiến đầu tư, hợp tác, liên doanh, liên kết với các địa phương trong nước và tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Làm tốt công tác dự báo thị trường để giúp doanh nghiệp chủ động nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Thu hút các nguồn lực tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thương mại; mở rộng quy mô các loại hình thương mại truyền thống (hệ thống chợ, siêu thị...); chú trọng phát triển loại hình thương mại điện tử, thương mại hiện đại; xây dựng mạng lưới phân phối hàng hóa kết nối với các địa phương trong tỉnh, trong vùng và cả nước.

1.3. Nâng cao chất lượng công tác lập và quản lý quy hoạch; tăng cường đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và hạ tầng đô thị đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh

Hoàn thành và triển khai quy hoạch tỉnh Cao Bằng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025; quy hoạch các ngành, lĩnh vực; quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được phê duyệt gắn với tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra thực hiện quy hoạch và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Quan tâm đầu tư phát triển hạ tầng nông thôn, hạ tầng vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; đẩy mạnh xã hội hóa để đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng văn hóa, y tế, giáo dục, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Đẩy mạnh thực hiện các dự án trong chương trình phát triển đô thị của tỉnh, huyện, thành phố, nhất là các dự án phát triển đô thị theo hình thức đối tác công - tư (PPP), hình thức dự án có sử dụng đất. Quan tâm đầu tư, chỉnh trang, nâng cấp trung tâm các huyện, các xã, thị trấn; tập trung hoàn thành đồng bộ hệ thống hạ tầng khung đô thị Thành phố Cao Bằng, xây dựng Thành phố Cao Bằng trở thành Thành phố du lịch, hiện đại, văn minh, là trung tâm tăng trưởng và phát triển, trung tâm liên kết, hội nhập để tạo sức lan tỏa tới các đô thị trong toàn tỉnh. Đầu tư xây dựng và đưa vào vận hành một số công trình quan trọng: Trụ sở làm việc Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; Trụ sở làm việc các sở, ban, ngành của tỉnh; Trụ sở làm việc các cơ quan sự nghiệp của tỉnh và Hội đặc thù; Đập dâng nước Sông Bằng; Công viên gắn với phố đi bộ ven sông Bằng; Bảo tàng tỉnh; Khu liên hợp thể thao tỉnh...; mời gọi đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại, dịch vụ tại Khu đô thị mới Đề Thám và hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh.

Triển khai có hiệu quả phương án kết nối giao thông tới các cửa khẩu, khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh; xây dựng kết nối giao thông liên hoàn giữa các huyện của Cao Bằng và địa phương các tỉnh giáp ranh (Lạng Sơn, Bắc Kạn, Hà Giang). Hoàn thành giai đoạn 1 tuyến đường bộ cao tốc từ Đồng Đăng (Lạng Sơn) đến thành phố Cao Bằng và triển khai các thủ tục đầu tư giai đoạn 2 đến cửa khẩu Trà Lĩnh (Cao Bằng). Đề nghị Chính phủ quy hoạch và xây dựng Dự án sân bay Cao Bằng, Quốc lộ 3C thuộc địa phận tỉnh Cao Bằng; làm việc với các Bộ, ngành Trung ương về lập Quy hoạch giao thông vận tải kết nối các tỉnh Tây Nam, Trung Quốc (Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Bách Sắc) - Cao Bằng (qua cửa khẩu Trà Lĩnh) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng theo đường biển đi các nước ASEAN và ngược lại. Nghiên cứu, xây dựng quy hoạch và khai thác đường thủy nội địa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; xây dựng hệ thống giao thông tĩnh (bãi đỗ xe, bến xe, cảng cạn...) tại thành phố Cao Bằng và các trung tâm đô thị, khu du lịch, khu kinh tế cửa khẩu.

1.4. Chủ động, linh hoạt trong điều hành thu, chi ngân sách; hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã

Thực hiện có hiệu quả các giải pháp tăng thu ngân sách, thu đúng, thu đủ, nuôi dưỡng và tạo nguồn thu mới, kiên quyết thu hồi các khoản nợ đọng thuế, xử lý nghiêm đối với các trường hợp trốn, lậu thuế; phấn đấu hằng năm thu vượt dự toán để có thêm nguồn vốn cho đầu tư phát triển, đảm bảo an sinh xã hội, giảm dần chi thường xuyên, tăng dần chi đầu tư phát triển. Quản lý, sử dụng kinh phí theo đúng quy định; tăng cường kiểm tra, giám sát và công khai, minh bạch việc sử dụng ngân sách nhà nước.

Phát triển đa dạng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn, tăng khả năng tiếp cận vốn cho tổ chức, cá nhân; đẩy mạnh thực hiện Đề án thanh toán không dùng tiền mặt. Phát triển thị trường tài chính, trọng tâm là các tổ chức tín dụng, đảm bảo vốn tín dụng phục vụ sản xuất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.

Xây dựng các cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, khởi nghiệp, hỗ trợ và thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực thế mạnh của tỉnh; phát triển doanh nghiệp trở thành lực lượng nòng cốt, là động lực quan trọng để khai thác tốt các lợi thế, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển của tỉnh nhanh và bền vững. Thực hiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hợp tác xã trong việc tiếp cận vốn tín dụng, mặt bằng sản xuất kinh doanh, tiếp cận thị trường... Tích cực mời gọi, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư chiến lược tham gia đầu tư tại tỉnh; lựa chọn một số doanh nghiệp, hợp tác xã có năng lực tài chính, quy mô lớn, sử dụng công nghệ cao làm đầu tầu, tạo động lực lan tỏa để hình thành các doanh nghiệp, hợp tác xã vệ tinh, phụ trợ, thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển. Khuyến khích hợp tác, liên kết để mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm.

1.5. Nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường; thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, đẩy mạnh việc ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đời sống

Tăng cường quản lý, bảo vệ, khai thác hợp lý, hiệu quả đất đai, tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước. Làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, đẩy mạnh phát triển quỹ đất, đấu giá quyền sử dụng đất, tạo nguồn lực đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhất là cơ sở hạ tầng giao thông, đô thị và các dự án chiến lược về phát triển du lịch.

Quản lý, bảo vệ chặt chẽ tài nguyên chưa khai thác, nhất là các nguồn tài nguyên nằm trong Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng. Thực hiện xã hội hoá đầu tư, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong thu gom và xử lý chất thải rắn, nước thải ở khu đô thị, khu dân cư, cơ sở sản xuất, cơ sở y tế. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường, nâng cao năng lực dự báo thiên tai, chủ động ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, thu hút và đãi ngộ đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ chất lượng cao tại các ngành, nghề theo nhu cầu thực tế của địa phương; huy động các nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất, hình thành và phát triển hệ sinh thái đổi mới, sáng tạo và khởi nghiệp. Phát triển rộng rãi tổ chức khoa học và công nghệ, thị trường công nghệ; tăng cường nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa kết quả các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; tích cực ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực quan trọng, đột phá của tỉnh, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp từ quy trình đầu vào đến đầu ra của sản phẩm, hướng dẫn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hợp tác xã, các nhóm hộ nông dân trong xây dựng, đăng ký và bảo vệ thương hiệu hàng hóa.

2. Văn hóa - xã hội

2.1. Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, thể dục thể thao, công nghệ thông tin và truyền thông; nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh

Tiếp tục giữ gìn, phát huy, phát triển những đặc sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc Cao Bằng, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở địa phương. Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; xây dựng nếp sống văn hóa trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sống; ngăn chặn và đẩy lùi các hủ tục, bạo lực, các tệ nạn xã hội, các sản phẩm phi văn hóa, độc hại... Bảo tồn và phát huy đậm đà bản sắc, giá trị văn hóa truyền thống đa dạng, phong phú, độc đáo của các dân tộc trong tỉnh như: các loại hình nghệ thuật dân gian (dân ca, dân nhạc, dân vũ), phong tục, tập quán, trang phục dân tộc, văn hóa ẩm thực, lễ hội, nghề truyền thống... gắn với phát triển du lịch; xây dựng và phát triển đa dạng các loại hình sinh hoạt, câu lạc bộ Hát then - Đàn tính tại các xã, phường, thị trấn; đưa Hát then - Đàn tính vào trong chương trình giảng dạy ở một số trường học; quan tâm đầu tư, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, cách mạng, danh lam thắng cảnh. Đẩy mạnh hợp tác và giao lưu quốc tế về văn hóa. Khuyến khích xã hội hóa đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa, các điểm vui chơi, giải trí phục vụ cộng đồng; nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở. Nâng cao chất lượng nghệ thuật chuyên nghiệp; thực hiện tốt các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện để đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng, nghệ thuật. Phát triển mạnh mẽ phong trào thể thao quần chúng, chú trọng đầu tư cho thể thao chuyên nghiệp, thành tích cao.

Phát triển sâu rộng hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin, phổ cập internet băng thông rộng; xây dựng nền tảng tích hợp và chia sẻ dữ liệu, hình thành các kho dữ liệu dùng chung; từng bước chuyển đổi số theo lộ trình quốc gia. Đa dạng hóa các dịch vụ bưu chính phục vụ cho phát triển thương mại điện tử và kinh tế số; phát huy tích cực vai trò của bưu chính công ích trong quá trình cung cấp dịch vụ công. Chú trọng xây dựng chính quyền điện tử hướng tới chính quyền số, từng bước thí điểm các dịch vụ đô thị thông minh, đẩy mạnh các giao dịch hành chính công trên môi trường mạng ở mức độ cao. Tăng cường năng lực bảo vệ, bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Thực hiện tốt công tác quản lý hoạt động báo chí, xuất bản, công tác thông tin đối ngoại, thông tin cơ sở; tích cực tuyên truyền, giáo dục, định hướng dư luận và phản biện xã hội.

2.2. Tiếp tục thực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục; nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng xã hội học tập

Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở các cấp học, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên để cung cấp, trang bị, cập nhật những kiến thức, kỹ năng, lối sống, phẩm chất đạo đức cho học sinh, sinh viên, người lao động, từng bước xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập. Thường xuyên đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập; đa dạng hóa các loại hình đào tạo, mở rộng liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục trong và ngoài nước. Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đảm bảo về cơ cấu, chất lượng. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và quản lý giáo dục. Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học theo hướng chuẩn hóa, kiên cố hóa, hiện đại hóa; xây dựng trường chuẩn quốc gia; đầu tư, nâng cấp hệ thống trường dân tộc nội trú, bán trú. Củng cố, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục và xóa mù chữ; thực hiện tốt chủ trương giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau trung học cơ sở.

Tuyên truyền, vận động và tổ chức tốt việc học tập suốt đời nhằm phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc; phấn đấu mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và gia đình cán bộ, đảng viên trở thành đơn vị học tập, công dân học tập, gia đình học tập.

2.3. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho mạng lưới y tế; nâng cấp các cơ sở y tế tuyến tỉnh và huyện để có đủ khả năng giải quyết cơ bản nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngay tại địa phương. Phát triển hệ thống khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng hoàn chỉnh từ tỉnh đến huyện và khuyến khích tạo điều kiện để phát triển các cơ sở y tế ngoài công lập chất lượng cao. Chú trọng hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống y tế dự phòng; phát huy tốt vai trò là tuyến đầu trong phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe của y tế cơ sở; thực hiện tiêu chí quốc gia về y tế xã; phát triển y học gia đình. Đẩy mạnh kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong khám, chữa bệnh. Tiếp tục đào tạo, nâng cao y đức, tay nghề, đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, y bác sĩ; ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong khám bệnh, chữa bệnh. Triển khai đồng bộ các giải pháp tiến tới toàn dân tham gia bảo hiểm y tế theo quy định. Thực hiện tốt các biện pháp kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm.

Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới cung cấp dịch vụ dân số toàn diện về quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số; củng cố mạng lưới dịch vụ kế hoạch hóa gia đình; khuyến khích đầu tư và phát triển các cơ sở chăm sóc người cao tuổi; duy trì hợp lý mức tăng dân số, đảm bảo cân bằng giới tính khi sinh. Thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng dân số (sức khỏe, tầm vóc, tuổi thọ).

2.4. Triển khai đồng bộ, hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững và các chính sách về dân tộc, tôn giáo, đảm bảo an sinh xã hội

Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề và hỗ trợ tạo việc làm theo hướng bền vững, ổn định cho người lao động; chú trọng phát triển thị trường lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế. Triển khai thực hiện tốt các chính sách về giảm nghèo để cải thiện điều kiện sống và tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo; giải quyết tốt về nhu cầu đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách, chế độ ưu đãi Người có công; đẩy mạnh các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, “xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ, người có công” nhằm huy động mọi nguồn lực trong xã hội, cộng đồng cùng nhà nước chăm sóc tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của người có công với cách mạng.

Phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, cộng đồng, người lao động trong tổ chức thực hiện Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Việc làm. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ, chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi; tạo môi trường sống an toàn, thực hiện đầy đủ quyền trẻ em; đẩy mạnh phòng chống tệ nạn xã hội, góp phần ổn định trật tự xã nội, nâng cao đời sống của người dân, đặc biệt là các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo.

Triển khai có hiệu quả Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 đến năm 2030. Tổ chức thực hiện nghiêm chính sách pháp luật về tôn giáo. Tăng cường công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc, vùng có đạo; chủ động nắm tình hình, xử lý kịp thời những tình huống phức tạp liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái phép và các hiện tượng tôn giáo mới.

3. Quốc phòng - an ninh, đối ngoại

3.1. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia

Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với các lực lượng vũ trang nhân dân; thực hiện có hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện vững chắc. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục quốc phòng toàn dân, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng theo phân cấp. Xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu cao; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên theo đúng Luật và Pháp lệnh; thực hiện đăng ký, quản lý, sắp xếp, huấn luyện kiểm tra, sẵn sàng động viên lực lượng dự bị động viên đúng quy định; hoàn thành kế hoạch huấn luyện, diễn tập hàng năm. Quan tâm đầu tư xây dựng thao trường huấn luyện, các công trình quốc phòng. Chăm lo cải thiện đời sống cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang.

Đẩy mạnh hợp tác giữa các địa phương, các lực lượng hai bên biên giới trong việc quản lý, bảo vệ hệ thống mốc giới và phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các loại tội phạm, các hành vi vi phạm quy chế quản lý, bảo vệ biên giới, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển. Tiếp tục đề nghị với Chính phủ quan tâm đầu tư đường vành đai, đường tuần tra biên giới.

3.2. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội

Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, củng cố vững chắc thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn. Xây dựng lực lượng công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ. Chủ động phòng ngừa và đấu tranh chống các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, các hoạt động âm mưu “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch; làm tốt công tác phòng ngừa, chủ động tấn công, trấn áp, kiềm chế gia tăng các loại tội phạm và tệ nạn xã hội. Kịp thời giải quyết những vấn đề phức tạp từ cơ sở, không để phát sinh “điểm nóng” về an ninh trật tự. Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về an ninh trật tự và đảm bảo trật tự an toàn giao thông; đấu tranh, ngăn chặn, tiến tới xóa bỏ tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình.

3.3. Tích cực, chủ động mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại của Đảng với ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân

Triển khai thực hiện có hiệu quả các Hiệp định, thỏa thuận đã ký kết với phía Trung Quốc và các đối tác nước ngoài; đẩy mạnh các chương trình hợp tác đào tạo nhân lực, đầu tư phát triển nông nghiệp, du lịch, y tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa và kinh tế biên mậu; đẩy nhanh kết nối tuyến vận tải quốc tế từ các tỉnh của Việt Nam đến Quảng Tây, Trung Quốc qua các cửa khẩu tỉnh Cao Bằng, góp phần thúc đẩy, đưa mối quan hệ giữa tỉnh Cao Bằng với Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc ngày càng phát triển theo hướng toàn diện, hiệu quả, thiết thực. Tranh thủ cơ chế hợp tác Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN, khuôn khổ hợp tác WTO, Chương trình hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công GMS và lợi thế khi Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CP-TPP), Hiệp định thương mại tự do (FTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (IPA). Chủ động tiếp cận các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế, khu vực tranh thủ vốn, kinh nghiệm quản lý và thu hút đầu tư, hợp tác trên các lĩnh vực.

4. Công tác xây dựng Đảng

4.1. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chính trị tư tưởng, tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân

Kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác chính trị, tư tưởng, giáo dục lí luận chính trị, đáp ứng yêu cầu nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên. Kiên định đường lối đổi mới và những nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng. Thực hành dân chủ gắn với kỷ luật, kỷ cương, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là vai trò của cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đẩy mạnh thực hiện toàn diện chủ trương đổi mới của Đảng, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống, nhất là truyền thống của quê hương cội nguồn cách mạng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức đến hành động, bổn phận và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân với truyền thống quê hương, với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Nắm chắc tình hình tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, dư luận xã hội; chủ động phát hiện, nhận diện, đấu tranh, xử lý ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tăng cường đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; nhất là đấu tranh trên Internet, mạng xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

 4.2. Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ và hoạt động của các tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên

Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị sau khi sắp xếp; triển khai có hiệu quả các mô hình tổ chức thí điểm hợp nhất, tiến hành sơ kết, tổng kết mô hình để nhân rộng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; làm tốt công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên, nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên mới, chú trọng tạo nguồn phát triển đảng viên ở vùng sâu, vùng xa, khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ít người, đảng viên khu vực nông thôn, đơn vị kinh tế tư nhân; thường xuyên rà soát, sàng lọc và kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.

Xây dựng Đề án, kế hoạch triển khai có hiệu quả Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh; đổi mới các khâu trong công tác cán bộ; thực hiện bố trí chức danh Bí thư huyện ủy, thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố không phải người địa phương. Thực hiện nghiêm túc các quy định và trách nhiệm nêu gương của cán bộ đảng viên nhất là cá nhân người đứng đầu các địa phương, đơn vị. Chú trọng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên. Thực hiện tốt chính sách cán bộ và các cơ chế, chính sách ưu tiên về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; chính sách thu hút nhân tài về công tác tại địa phương.

4.3. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng

Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cấp ủy, nhất là người đứng đầu về công tác kiểm tra, giám sát. Kịp thời phát hiện, kiểm tra và xử lý những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; vi phạm các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Thực hiện có hiệu quả các chương trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy, trong đó tập trung kiểm tra, giám sát việc thực hiện Điều lệ Đảng và các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng, việc thực hiện dân chủ trong Đảng và quy chế làm việc của cấp ủy, trọng tâm là: kiểm tra, giám sát việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu thực hiện Nghị quyết Đại hội, các chương trình trọng tâm của Đảng bộ tỉnh; trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ và thực hiện quy định trách nhiệm nêu gương; việc thực hiện các quy định về thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tập trung kiểm tra, giám sát các lĩnh vực, địa bàn dễ phát sinh vi phạm, các vấn đề nổi cộm, dư luận xã hội quan tâm. Tăng cường giám sát thường xuyên, chủ động nắm chắc tình hình tổ chức đảng và đảng viên; kịp thời phát hiện và kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; giải quyết kịp thời, đúng quy định các đơn thư tố cáo, khiếu nại. Xử lý nghiêm đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Tăng cường quan hệ phối hợp trong thực hiện công tác kiểm tra, giám sát giữa ủy ban kiểm tra với các tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể; tiếp nhận, xử lý tốt các thông tin, phản ánh của nhân dân đối với các vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên.

4.4. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của hệ thống chính trị

Thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về công tác vận động quần chúng; củng cố, phát huy khối đại đoàn kết các dân tộc. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp đối với công tác dân vận. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Đổi mới công tác dân vận theo hướng thiết thực với cách làm sáng tạo, hiệu quả hướng đến mục tiêu đồng thuận, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và điều hành của chính quyền các cấp, củng cố mối quan hệ mật thiết, gắn bó khăng khít giữa Đảng, hệ thống chính trị với nhân dân.

Tập trung nâng cao hiệu quả công tác Dân vận trong các cơ quan nhà nước, phát huy vai trò trách nhiệm của các cấp, các ngành và của cán bộ, đảng viên đối với công tác dân vận. Tăng cường phối hợp, thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị, quy chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng cơ chế phối hợp giữa chính quyền, các cơ quan, tổ chức với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp. Thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo; chủ động nắm chắc tình hình cơ sở, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết các dân tộc, góp phần ổn định an ninh chính trị, an toàn xã hội. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, thi đua “Dân vận khéo” trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân. Tăng cường đối thoại, tiếp xúc với nhân dân, sâu sát cơ sở, nắm chắc diễn biến tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, kịp thời tham mưu với cấp ủy và chủ động triển khai thực hiện chủ trương, giải pháp xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân.

4.5. Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tiếp tục thực hiện tốt công tác cải cách tư pháp

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của các cấp ủy đảng đối với công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, nhất là vai trò tiên phong gương mẫu của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị. Triển khai có hiệu quả Chiến lược quốc gia phòng chống tham nhũng trong giai đoạn mới và chương trình cải cách tư pháp. Thực hiện tốt cơ chế bảo vệ, khuyến khích người đứng đầu kiểm tra, phát hiện, xử lý tham nhũng và cơ chế bảo vệ, khuyến khích người tố cáo, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; thực hiện và kiểm soát tốt việc kê khai tài sản, thu nhập cá nhân theo quy định. Đẩy mạnh công tác thanh tra, tư pháp, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giữ vững kỷ cương pháp luật; làm tốt công tác tiếp công dân, giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu nại, tố cáo.

5. Hoạt động của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội

5.1. Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động và nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Hội đồng nhân dân và hiệu quả quản lý, chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân các cấp

Đa dạng hóa các hình thức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào dự thảo Luật, các chương trình, đề án, dự án, nghị quyết trước khi trình thông qua. Ban hành các chính sách đặc thù để thực hiện 3 đột phá chiến lược, tập trung vào các chính sách tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư chiến lược tham gia đầu tư tại tỉnh. Nâng cao chất lượng các kỳ họp, các hoạt động giám sát, tiếp xúc cử tri và chất lượng các phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, phiên giải trình tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân. Tăng cường đôn đốc, giám sát các kiến nghị sau các cuộc giám sát chuyên đề. Tiếp thu và trả lời các ý kiến, kiến nghị của cử tri theo hướng mở rộng dân chủ, thiết thực và kịp thời. Tổ chức tốt cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành của bộ máy hành chính các cấp theo hướng sâu sát, cụ thể, quyết liệt; cải tiến lề lối làm việc theo hướng thiết thực, hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, năng động, sáng tạo, có ý thức, trách nhiệm, tính chuyên nghiệp cao, tích cực, chăm chỉ làm việc, có hoài bão, khát vọng vì sự phát triển chung của tỉnh. Thực hiện việc phân cấp, phân quyền theo hướng xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, rõ trách nhiệm, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu, đi đôi với tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, công khai, minh bạch, dân chủ trong thực thi công vụ, góp phần phát huy tính chủ động, sáng tạo, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đề cao trách nhiệm của từng địa phương, đơn vị. Chăm lo đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo điều kiện làm việc và nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền xã, phường, thị trấn đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ đề ra. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, dịch vụ công trực tuyến, nâng cao hiệu quả phục vụ của Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh, giảm chi phí không chính thức; tích cực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

5.2. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy có hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội tham gia  phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng, chính quyền

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động; phát huy vai trò của giai cấp nông dân - chủ thể của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Chú trọng xây dựng đội ngũ trí thức, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh; xây dựng đội ngũ doanh nhân trên địa bàn tỉnh có trình độ quản lý, kinh doanh giỏi, có đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội. Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục và phát huy vai trò xung kích của thế hệ trẻ; tạo điều kiện cho thanh niên học tập, phấn đấu rèn luyện, trưởng thành. Thực hiện bình đẳng giới, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm đối với gia đình và xã hội. Phát huy vai trò tích cực của lực lượng Cựu chiến binh tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội quan tâm lựa chọn các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá trên các lĩnh vực: xây dựng nông thôn mới, nâng cao chất lượng các tổ chức hội trực thuộc, hỗ trợ hội viên khởi nghiệp, xoá nhà dột nát cho hội viên nghèo... để triển khai thực hiện. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động, đa dạng hoá các hình thức tập hợp, đoàn kết rộng rãi các thành phần xã hội, các tầng lớp nhân dân để tạo ra sự đồng thuận xã hội; kịp thời nắm bắt tình hình, định hướng dư luận trong nhân dân, không để phát sinh những điểm nóng phức tạp. Tích cực triển khai và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, khắc phục tình trạng hành chính hoá, hướng mạnh các hoạt động về cơ sở, vận động nhân dân tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, xoá bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, vươn lên làm giàu chính đáng. Thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội đối với các tổ chức Đảng và cơ quan chính quyền; tăng cường phối hợp tổ chức các hội nghị đối thoại với nhân dân; đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Nêu cao truyền thống quê hương cội nguồn cách mạng, luôn tích cực đổi mới, lan tỏa sâu rộng khát vọng vươn lên, với tinh thần "Đoàn kết - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển", Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tập trung cao độ và phát huy mạnh mẽ nội lực, bứt phá trong thu hút các nguồn lực đầu tư, xây dựng Cao Bằng phát triển nhanh, bền vững, bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

 

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH

PHỤ LỤC

Các chỉ tiêu chủ yếu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh

lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020

TT

Chỉ tiêu

ĐVT

NQĐH XVIII

Kết quả thực hiện

(số liệu dự ước)

So với mục tiêu NQĐH XVIII

1

Tổng sản phẩm (GRDP) - giá so sánh

%

7,0

7,0

100%

2

GRDP bình quân đầu người

USD

1.650

USD

(33,5 triệu đồng)

37,2

triệu đồng

111%

3

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân tăng hàng năm

%

10

10

100%

4

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn

%

10

11

110%

5

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu qua địa bàn

%

10

13

130%

 

6

Tổng sản lượng lương thực có hạt

Nghìn tấn

265

274

103,4%

Giá trị sản xuất nông nghiệp/ha

Triệu đồng/ha

40

40

100%

7

Số xã đạt tiêu chí nông thôn mới

20

25

125%

 

 

 

8

Duy trì nâng cao chất lượng các bậc học, cấp học;

 

 

 

Đạt

Hàng năm mỗi huyện, thành phố tăng thêm ít nhất 01 trường chuẩn quốc gia;

Trường

13

86

132,3%

Đến năm 2020 số xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ II

%

35

100

285,7%

 

 

9

Số bác sĩ/vạn dân

Bác sĩ

15

15

100%

Tỉ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã

%

60

62,1

103,5%

Tỉ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế

%

96

98,17

102,3%

10

Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên

%

0,88

0,88

100%

 

 

11

Tỉ lệ gia đình đạt chuẩn văn hóa

%

85

85

100%

Tỉ lệ làng, xóm, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn văn hóa

%

55

55

Tỉ lệ cơ quan đạt tiêu chuẩn văn hóa

%

90

95

105,5%

Tỉ lệ xóm có nhà văn hóa

%

78,8

80,7

102,4%

 

12

 

Tỉ lệ lao động qua đào tạo

%

45

45

100%

Trong đó: Đào tạo nghề

%

33

33

13

Tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm

%

>2

4,12

206%

14

Tỉ lệ che phủ rừng

%

53

55

103,3%

15

Tỉ lệ số hộ chăn nuôi đưa gia súc ra khỏi gầm sàn nhà ở

%

50

57,7

115,3%

 

 

 

16

Tỉ lệ dân cư thành thị được dùng nước sạch

%

95

95

100%

Tỉ lệ dân cư nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh

%

90

90

 

 

17

Tỉ lệ tổ chức cơ sở đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh hàng năm

%

50

50

 

 

100%

Bình quân hàng năm kết nạp đảng viên mới

đảng viên

2.000

> 2.000

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh